Đại Phù Thủy - Tác giả Tri Hành
Chương 151. Chuong 151
Chương 151 — Mái bắc
Mái bắc cô nhi viện Wrenfold có bốn trăm mười hai viên ngói đá phiến.
Adrian đếm vào sáng thứ Năm 2/7/1936, đứng trên chiếc thang gỗ dựa vào tường hồi, một tay giữ thanh thang, một tay cầm bút chì. Peter đứng dưới giữ chân thang. Peter mười bảy tuổi, đã cao hơn Adrian nửa đầu, vai rộng vì hai năm khuân súc vải ở xưởng Daunt, và giữ thang bằng một tay như giữ một cây chổi.
— Bao nhiêu? Peter hỏi từ dưới.
— Bốn trăm mười hai, Adrian nói. Một trăm ba mươi bảy viên nứt. Hai mươi chín viên mất hẳn. Ba chỗ rui mục, chỗ trên phòng Nell, chỗ trên kho, và chỗ trên cầu thang.
— Chỗ cầu thang thì ai cũng biết, Peter nói. Mưa là dột vào bậc thứ năm.
— Bậc thứ sáu, Adrian nói. Bậc thứ năm khô. Nước chảy theo rui, rơi xuống bậc thứ sáu.
Peter nhìn lên, nheo mắt vì nắng.
— Cậu đo cả chỗ dột à?
— Năm ba mươi hai, Adrian nói. Mùa đông. Bằng bát.
Peter cười. Không phải cười chế. Cười như người ta cười khi nhớ ra một điều đã quên rằng mình biết.
*
Tiền lợp mái là tiền Adrian để dành từ học bổng phụ cấp sáu năm, từ những buổi chép sổ cho ông Price, từ khoản trả công đo đạc ông Ollerton gửi qua bưu điện hồi tháng Ba mà Adrian đã cố trả lại hai lần, và lần thứ ba thì ông Ollerton viết rằng nếu trả lại nữa thì sẽ gửi một con trâu. Tổng cộng bảy bảng mười hai si-linh. Đủ cho ngói, đinh đồng, ba cây rui sồi và công thợ một ngày. Không đủ cho công thợ ba ngày. Hai ngày còn lại là Adrian và Peter.
Margaret không đồng ý ngay. Margaret ngồi ở bàn bếp, đọc tờ kê Adrian viết, đọc hai lần, rồi đặt bút chì xuống và nói rằng tiền của một người mười tám tuổi là để người ấy đi xa, không phải để lợp mái cho một ngôi nhà mà người ấy sắp rời. Adrian nói Adrian không rời. Margaret nói ai cũng rời. Adrian nói vậy thì để mái còn khi người sau đến. Margaret nhìn Adrian rất lâu, rồi cầm bút chì lên và sửa một con số ở dòng thứ tư, giá đinh, vì Adrian tính giá đinh sắt chứ không phải đinh đồng, và đinh sắt sẽ gỉ trong mười năm.
— Đinh đồng, Margaret nói. Nếu làm thì làm cho mười năm.
Thế là xong.
*
Thợ lợp đến từ Kelbrook sáng thứ Hai 6/7: ông Tegg, bảy mươi tuổi, đội mũ dạ, mang theo một cái búa lợp có lưỡi rìu ở một đầu và đầu nhọn ở đầu kia. Ông Tegg không nói nhiều. Ông Tegg nhìn mái, nhìn rui, nhìn Adrian, rồi chỉ vào chỗ trên cầu thang và nói rằng cái rui này đã mục từ trước khi Adrian ra đời. Adrian nói rằng chắc vậy. Ông Tegg hỏi Adrian đo bằng gì. Adrian nói bằng bát. Ông Tegg gật, như thể đó là câu trả lời đúng.
Ông Tegg, Peter và Adrian làm từ bảy giờ sáng đến sáu giờ chiều. Ông Tegg thay rui. Peter chuyển ngói. Adrian đục lỗ đinh trên những viên ngói mới bằng chiếc đục nhỏ ông Tegg đưa, mỗi viên hai lỗ, cách mép trên một inch rưỡi, cách nhau năm inch. Lỗ phải đục từ mặt dưới lên, để mép vỡ nằm ở mặt trên, ăn vào đinh. Ông Tegg chỉ một lần. Adrian làm đúng từ viên thứ hai. Viên thứ nhất vỡ đôi.
— Viên đầu bao giờ cũng vỡ, ông Tegg nói, và nhặt hai mảnh, đặt vào góc, không vứt. Để lót máng.
Đến trưa, Alice mang bánh mì và pho mát lên, đặt vào giỏ, và Peter kéo giỏ lên bằng dây thừng. Alice đứng dưới sân, tay che mắt, nhìn ba cái bóng trên mái.
— Anh Adrian, Alice gọi. Thuyền số không chạy được rồi. Hôm qua ra giữa ao, gió đẩy về.
— Gió hướng nào? Adrian hỏi từ trên mái.
— Hướng tây, Alice nói. Em đo bằng khói ống khói nhà ông Hobbs.
Adrian dừng tay. Ông Tegg cũng dừng tay, nhìn xuống sân, rồi nhìn Adrian.
— Con bé nhà cậu à? ông Tegg hỏi.
— Em gái, Adrian nói. Không phải ruột. Em gái.
Ông Tegg gật lần nữa, và quay lại với rui.
*
Bốn ngày. Ngày thứ tư, thứ Năm 9/7, viên ngói cuối được đóng lúc năm giờ hai mươi chiều, trên chỗ cầu thang, và ông Tegg để Adrian đóng. Hai đinh đồng. Ba nhát búa mỗi đinh. Rồi ông Tegg đặt lòng bàn tay lên viên ngói, ấn, nghe, như người ta nghe một cái thùng.
— Mười năm, ông Tegg nói. Có khi hai mươi.
Đêm ấy trời mưa. Không lớn. Mưa mùa hè, đều, ấm. Adrian ngồi trên bậc thứ sáu cầu thang lúc mười một giờ đêm, một cái bát trên đầu gối, và đợi. Margaret đi ngang, cầm đèn, thấy Adrian, dừng lại.
— Khô không? Margaret hỏi.
— Khô ạ, Adrian nói.
Margaret không đi tiếp ngay. Margaret ngồi xuống bậc thứ năm, đặt đèn xuống bậc thứ tư, và hai người ngồi nghe mưa trên một mái nhà không dột lần đầu tiên từ mùa đông năm 1932. Không ai nói gì. Rồi Margaret đứng dậy, cầm đèn, và đặt tay lên vai Adrian một lúc trước khi đi, như đặt tay lên một viên ngói vừa đóng.
*
Thư Evelyn đến hai lần trong tháng Bảy.
Lá thứ nhất đến thứ Hai 13/7, phong bì kem dày, sáp xanh dấu cây sồi ba nhánh, chữ nghiêng cao, đều, mực xanh đen. Ông Pennock đặt lá thư trên cùng túi thư, đúng như đã hứa, và Joe mang về chạy cả quãng đường từ tiệm đến cổng, và đến cổng thì thở như vừa chạy từ Kelbrook.
"Thornwick, 8/7/36.
Adrian,
Cô Rosamund đã đọc đề nghị hai cột của cậu. Cô Rosamund đọc hai lần, rồi đưa lại tớ và nói: 'Cậu ấy định cho ta biết cậu ấy chưa đo gì. Hiếm có người đo nào làm thế. Phần lớn họ muốn cho ta biết họ đã đo nhiều đến đâu.' Tớ ghi nguyên văn, vì tớ biết cậu sẽ muốn nguyên văn.
Cô Rosamund chấp nhận. Có điều kiện. Cô Rosamund sẽ đặt ba luật khi cậu đến, nói trực tiếp, không viết. Tớ hỏi vì sao không viết. Cô Rosamund nói: 'Vì luật viết ra thì người ta đọc. Luật nói ra thì người ta nhớ.' Tớ không chắc tớ đồng ý. Tớ ghi vào cột 'chưa đo'.
Cô Rosamund cũng gửi kèm một danh sách câu hỏi. Tớ chép lại ở trang sau. Cô Rosamund nói đây không phải câu hỏi cho cậu trả lời bây giờ. Đây là câu hỏi người đo nên mang theo vào thung lũng, để biết khi nào mình đã trả lời được và khi nào chưa.
Thomas đã viết cho tớ. Thomas hỏi chân máy kinh vĩ Cary có vít đồng hay vít thép. Tớ đã xuống tận kho hỏi Garrick. Vít đồng. Garrick nói từ năm 1841 chưa ai thay. Tớ nói với Thomas như vậy, và Thomas viết lại một lá thư dài ba trang chỉ về vít đồng. Tớ đọc hết. Tớ không hiểu trang thứ hai. Đừng kể với Thomas.
Tảng đá canh thứ bảy vẫn lạnh. Tớ đặt tay lên mỗi sáng. Không phải lạnh như đá vào sáng sớm. Lạnh như đá vào tháng Giêng.
E. A."
Trang sau là danh sách của cô Rosamund, chữ Evelyn chép, nhưng thứ tự và cách đặt câu không phải của Evelyn. Adrian nhận ra ngay. Câu của Evelyn bao giờ cũng ngắn trước dài sau. Câu của cô Rosamund dài trước, rồi kết bằng một mệnh đề ngắn như đóng một cánh cửa.
"Một. Con suối chảy về tây ở đoạn nào, và từ năm nào bản đồ bắt đầu sai — hoặc từ năm nào con suối bắt đầu khác bản đồ.
Hai. Có chỗ nào trong thung lũng mà cỏ không mọc theo hướng gió.
Ba. Có vật gì trong thung lũng mà người đo không đo được, và người đo có biết vì sao không.
Bốn. Người đo sẽ dừng ở đâu nếu không ai bảo dừng."
Adrian đọc câu thứ tư bốn lần. Rồi chép cả bốn câu vào trang thứ ba của sổ đo bìa vải nâu, dưới hai cột còn trống. Câu thứ tư, Adrian chép lại hai lần. Lần thứ hai không phải vì sợ quên.
*
Lá thứ hai đến thứ Năm 30/7.
"Thornwick, 25/7/36.
Adrian,
Mẹ tớ hỏi cậu có ăn cá không. Tớ nói cậu ăn mọi thứ, trừ củ cải đường luộc, vì cậu đã kể năm hai rằng ở Wrenfold mùa đông năm ba mươi mốt chỉ có củ cải đường luộc suốt ba tuần. Mẹ tớ nhìn tớ một cách lạ. Tớ không biết vì sao tớ còn nhớ chuyện củ cải. Tớ không ghi vào cột nào.
Thomas đến ngày 10 cùng chuyến với cậu. Garrick đón ở ga Stonebarrow lúc mười giờ. Garrick nói nếu tàu muộn thì Garrick đợi; nếu tàu đúng giờ thì Garrick đã đợi sẵn. Tớ không biết đó là đùa hay không. Với Garrick không bao giờ biết.
Cô Rosamund bảo tớ viết thêm một dòng, và bảo tớ viết nguyên văn: 'Người đo mang theo áo ấm. Thung lũng không biết bây giờ là tháng Tám.'
Tớ hỏi cô Rosamund vậy nghĩa là gì. Cô Rosamund nói: 'Nghĩa là mang theo áo ấm.'
E. A.
T.B. Tớ đã học dựng mia. Garrick dạy. Garrick nói tớ dựng mia thẳng hơn ông thợ đo năm 1911. Tớ không biết Garrick lấy đâu ra mà so."
Adrian đọc dòng của cô Rosamund lần thứ hai, rồi lần thứ ba.
Thung lũng không biết bây giờ là tháng Tám.
Rồi Adrian đóng thư, gấp lại theo nếp cũ, đặt vào hộp thiếc dưới gầm giường cùng những lá khác, và lấy ra từ va li một thứ mà từ khi về Wrenfold Adrian chưa mở lần nào.
*
Cái hộp gỗ dài bằng bàn tay, rộng bằng ba ngón, gỗ lê, nắp trượt. Adrian mua ở cửa hàng dụng cụ ma dược Aldermoor hồi tháng Ba, giá ba si-linh, vì đó là hộp rẻ nhất có lót nỉ.
Trong hộp có ba lọ thủy tinh nâu, mỗi lọ cao hai inch, nút bần bọc sáp. Trên mỗi nhãn, chữ Adrian, nhỏ, đều: "TT-3 / lô 1 / 22.4.36". Bên cạnh ba lọ là một tờ giấy gấp tư, ghi chép năm lần thử.
TT-3. Thanh tâm, công thức thứ ba.
Ở Vân Khê tông, Lão Tần làm thanh tâm hoàn trong một cái lò đất thấp ở góc dược phòng, nơi có một nghìn hai trăm chín mươi sáu ngăn kéo. Mỗi lò mười hai viên. Mỗi viên to bằng hạt đậu, màu xanh rêu, mùi đắng như lá chè xanh để qua đêm. Lão Tần dùng thanh tâm hoàn cho những đệ tử mới nhập môn bị tâm ma quấy lần đầu, cho những người đi qua sương độc Bắc Lĩnh, và cho chính Lão Tần những đêm không ngủ được. Adrian đã đứng bên lò ấy hai mươi bảy ngày trong ba mươi ngày. Đã thuộc trình tự. Đã thuộc cả những chỗ Lão Tần dừng lại, ngửi, và đợi. Nhưng không làm được. Không phải vì không biết. Vì thiếu lá thanh tâm, thứ lá chỉ mọc ở khe núi phía bắc Vân Khê, và ở Albion không có. Biết nhưng không làm được. Adrian đã viết dòng ấy vào cột "Chưa biết" từ năm 1934, và đã nghĩ dòng ấy sẽ ở đó mãi.
Rồi mùa xuân năm sáu, ở nhà kính số hai, Adrian tìm thấy lá ngưu chỉ thảo. Lá dày, mặt dưới có lông mịn màu bạc, gân lá chạy theo hình xương cá, mùi đắng như lá chè để qua đêm. Adrian đã so năm đặc điểm với trí nhớ. Năm trên năm. Không phải lá thanh tâm. Nhưng là một loài thân thích xa, đủ gần.
Không có lò đất. Không có linh hỏa. Không có những viên đan nặn tay. Adrian không thể làm thanh tâm hoàn ở Albion. Nhưng có thể làm một thứ khác, theo cùng một ý: một dạng cồn ngâm, chưng cách thủy ba lần, rút lấy cái đắng mà giữ cái trong. Lần thứ nhất hỏng, vì lửa đèn cồn ở phòng C-2 quá nóng. Lần thứ hai đục, vì thiếu thứ Lão Tần gọi là "giọt dẫn", một thứ để cái đắng không làm cho đầu đặc lại. Lần thứ ba, Adrian dùng mật ong Thornwick, nửa thìa, từ hũ Evelyn đưa hôm bốn đường ống sương, và chín giọt sương chuông sương còn giữ trong lọ pha lê từ buổi hái sương năm năm, buổi sáng mà Evelyn đã cầm lọ và Adrian đã cầm đèn.
Lần thứ ba trong.
Adrian thử trên chính mình. Năm lần, từ 22/4 đến 18/5, mỗi lần ghi giờ, liều, mạch, nhịp thở trước và sau, và một dòng mô tả. Ba giọt dưới lưỡi: đầu nhẹ hơn, như đứng ở cửa sổ mở. Sáu giọt: tiếng ồn trong phòng tách ra thành từng tiếng riêng, như mở một bản nhạc đã nghe nhiều lần và lần đầu nghe ra từng nhạc cụ. Chín giọt: lần thứ năm, Adrian ngồi trước gương ở phòng C-2, thở chín hơi, và nhìn vào gương trong mười một phút mà không thấy gì ngoài chính mình. Đó là điều Adrian muốn thử. Gương ở phòng C-2 là gương thường. Nhưng Adrian muốn biết.
Không thử trên ai khác. Không đăng ký. Không kể với thầy Mott, người ký giấy cho Adrian vào C-2 mỗi thứ Ba và thứ Sáu. Không kể với Thomas. Không kể với Evelyn.
Lý do làm là một dòng trong ghi chép của bà Ottoline Marsh.
Năm 1911, bà Marsh khảo sát Skelldale, một thung lũng nằm hai bậc về phía bắc Harrowdene. Ghi chép thực địa của bà Marsh, bản sao trong thư viện tầng hai, kệ địa lý ma pháp, có tám mươi trang. Trang bốn mươi bảy có một đoạn ngắn: "Người chăn cừu ở đầu thung lũng nói rằng vào những năm có sương lạ, người đi đêm dưới đáy hẻm ngủ đứng, mắt mở, và sáng ra kể về tuyết. Người dẫn đường, ông Whinn, nói chuyện ấy cũng có ở Harrowdene, từ đời ông nội người dẫn đường. Không xác minh được." Dưới đó, chữ khác, mực khác: "Đáy hẻm: không khảo sát."
Adrian đọc đoạn ấy lần đầu vào tháng Hai, sau khi Evelyn viết rằng năm nào cây sồi trên ô cửa ra quả thì năm ấy phải có người đi xuống thung lũng. Đọc lại vào tháng Ba. Đến tháng Tư thì tìm thấy lá ngưu chỉ thảo.
Adrian không biết sương ở Harrowdene là sương gì. Không biết có sương hay không. Không biết "ngủ đứng, mắt mở" là gì. Ghi chép của bà Marsh ghi "không xác minh được", và Adrian tôn trọng chữ ấy. Nhưng ở Vân Khê, ở Bắc Lĩnh, có một thứ sương mà Lão Tần gọi là "sương thực mộng", thứ sương làm người ta ngủ mà vẫn đi, và tin vào điều mình thấy trong giấc ngủ hơn điều mình thấy khi thức. Thanh tâm hoàn là để chống thứ sương ấy.
Có thể không giống. Có thể không có gì. Adrian đã viết ở cột "Chưa biết": "Sương Harrowdene: chưa biết có hay không. Nếu có: chưa biết là gì." Và ở dòng dưới: "Mang theo vẫn hơn."
*
Adrian ngồi trên giường gác mái, hộp gỗ lê mở trên đùi, nhìn ba lọ thủy tinh nâu.
Có một lý do để kể. Thomas sẽ đi cùng. Evelyn sẽ đi cùng. Nếu có sương, và nếu sương là sương ấy, thì một người không biết trong hộp có gì sẽ không biết phải hỏi. Evelyn đã nói ở bậc thềm thư viện, tháng Mười Hai năm ngoái: tớ nói trong ngày. Adrian đã hứa lại, ở cuối thư: trong ngày.
Có một lý do để không kể. Kể thì phải kể lá ngưu chỉ thảo giống lá gì. Kể thì phải kể trình tự học ở đâu. Kể thì phải kể Lão Tần. Và Lão Tần ở một nơi mà Adrian chưa thể kể, với bất cứ ai, kể cả Margaret.
Còn một lý do nữa, nhỏ hơn, mà Adrian chỉ thừa nhận với chính mình lúc gần nửa đêm: nếu kể, mà không có sương, thì Adrian sẽ là người đã mang một lọ thuốc chưa đăng ký đến nhà một gia tộc thuần huyết vì một đoạn ghi chép "không xác minh được". Và Evelyn sẽ nhìn Adrian theo một cách mà Adrian không muốn thấy.
Adrian viết vào sổ bìa xám, cột "Chưa biết", dòng mười sáu: "TT-3: chưa kể. Lý do kể: hai. Lý do không kể: hai. Một trong hai lý do không kể là sợ." Rồi nhìn dòng ấy một lúc. Rồi không gạch.
Đặt hộp gỗ lê vào va li, dưới áo len xám, cạnh đôi găng tay Evelyn đan, chiếc găng trái có ngón trỏ dài hơn một đốt.
*
Những ngày cuối tháng Bảy và đầu tháng Tám, Adrian chuẩn bị theo cách vẫn chuẩn bị.
Sổ đo bìa vải nâu: ba điều ở trang đầu, hai cột ở trang hai, bốn câu hỏi ở trang ba. Bản sao tay bản đồ Ancel năm 1803, vẽ lại từ bản trong thư viện Highcombe, tỷ lệ một phần mười nghìn, có lưới. Bản sao ghi chép bà Marsh, tám trang liên quan. Một cuộn dây gai mười một thước có thắt nút mỗi thước, vì Thomas sẽ mang xích đo nhưng xích đo có thể sai. Đèn bỏ túi, hai bấc dự phòng. Áo len xám Margaret đan năm ba, tay đã ngắn. Áo khoác dạ. Găng tay. Ba lọ TT-3 trong hộp gỗ lê. Một chiếc còi thiếc, của Peter, Peter đưa sáng thứ Sáu 7/8 mà không nói gì, chỉ đặt vào tay Adrian ở cửa bếp.
— Để làm gì? Adrian hỏi.
— Nếu lạc, Peter nói. Thổi ba hồi. Người ta nghe được còi thì tìm được. Peter dừng. Ở xưởng có đứa lạc trong kho bông một lần. Ba tiếng. Không ai tìm thấy vì không ai biết nó ở đâu.
Adrian nhận còi. Không nói rằng có thể không cần. Peter biết. Peter đưa vì Peter muốn đưa.
Alice đưa một mẩu giấy gấp nhỏ, bảo đến Thornwick mới được mở. Joe đưa một viên sỏi trắng nhặt ở ao, bảo để biết đường về. Nell không đưa gì, vì Nell đang giận Adrian chuyện Adrian đi mà không mang Nell theo, nhưng tối thứ Bảy Nell ngồi cạnh Adrian ở bàn bếp, sát hơn mọi khi, và không nói gì.
Margaret đưa một tờ giấy ghi địa chỉ bác sĩ gần nhất ở Stonebarrow. Margaret đã viết thư hỏi ông Pennock. Ông Pennock đã hỏi người đưa thư chuyến Giới Môn. Tờ giấy có ba địa chỉ, theo thứ tự gần nhất.
— Cháu không cần đâu ạ, Adrian nói. Thornwick có người.
— Ta biết, Margaret nói. Đây là cho ta. Để ta biết cháu có.
Adrian gấp tờ giấy, đặt vào túi áo khoác trong, cạnh còi thiếc.
*
Tối Chủ nhật 9/8, Adrian ăn tối sớm. Súp đậu, bánh mì, một miếng pho mát. Không có củ cải đường. Margaret đã để ý.
Đồng hồ trên lò sưởi chỉ sáu giờ bốn mươi khi Adrian đứng dậy. Tàu đêm đi Kelbrook lúc bảy giờ hai mươi. Từ Kelbrook, chuyến nối đến ga Giới Môn lúc hai giờ sáng. Qua Giới Môn cùng chuyến thư sáng thứ Hai, lúc năm giờ. Đến Stonebarrow lúc chín giờ bốn mươi.
Peter xách va li ra ga. Không ai bảo Peter xách. Alice đi theo, rồi Joe, rồi Sam, rồi Nell, vẫn giận, đi sau cùng, cách mọi người ba bước. Margaret đứng ở cổng.
Ở ga, tàu đã vào. Peter đặt va li lên bậc toa. Adrian quay lại.
Nell vẫn đứng cách ba bước. Nhìn đường ray, không nhìn Adrian.
Adrian đi lại ba bước, ngồi xuống cho ngang tầm Nell.
— Anh viết thư cho Nell, Adrian nói. Một lá riêng. Ngày thứ ba.
Nell không nhìn lên.
— Ngày thứ ba thì Margaret, Nell nói.
— Margaret một lá, Nell một lá, Adrian nói. Cùng ngày. Hai lá.
Nell nghĩ. Lâu. Lâu như Margaret đọc tờ kê.
— Viết cái gì? Nell hỏi.
— Viết con suối chảy hướng nào, Adrian nói.
Nell gật. Rồi bước một bước, ôm cổ Adrian, nhanh, chặt, và buông ra, và chạy về phía Alice. Không nói gì.
Còi tàu kêu. Adrian lên toa.
*
Toa hạng ba gần như trống. Một hành khách mặc áo choàng xám, đội mũ rơm — ngủ ở góc cuối toa, giỏ mây trên đùi. Adrian ngồi ở ghế cạnh cửa sổ, va li đặt dưới chân, áo khoác gấp trên đùi.
Tàu chạy. Ánh đèn ga Wrenfold lùi lại, nhỏ dần, rồi mất sau rặng du ven đường ray.
Adrian lấy mẩu giấy Alice đưa ra. Alice bảo đến Thornwick mới được mở. Adrian nhìn mẩu giấy gấp tư, một lúc, rồi cất lại vào túi áo, không mở.
Tàu đi qua cầu sông Lune lúc tám giờ năm phút. Mặt sông tối, có một vệt đỏ cuối cùng của hoàng hôn trên nước. Adrian nhìn vệt đỏ ấy cho đến khi tàu qua hết cầu.
Rồi nhắm mắt. Thở chín hơi. Không đi xuống. Chỉ đếm.
Trên toa tàu đêm, giữa Wrenfold và Kelbrook, Adrian Vale, mười tám tuổi, học đồ bậc hai, đứng thứ mười một năm sáu, mang theo một cuốn sổ đo có hai cột còn trống, bốn câu hỏi chưa trả lời, một chiếc còi thiếc, một viên sỏi trắng, một mẩu giấy chưa mở, một địa chỉ bác sĩ, và ba lọ thủy tinh nâu mà không ai biết.
Trong sổ bìa xám, dòng mười sáu cột "Chưa biết" vẫn ở đó, không gạch.
Ngoài cửa sổ, đồng cỏ tháng Tám chạy qua trong bóng tối, ấm, khô, đầy tiếng dế. Mùa hè. Ở đây vẫn là mùa hè.
Mái bắc cô nhi viện Wrenfold có bốn trăm mười hai viên ngói đá phiến.
Adrian đếm vào sáng thứ Năm 2/7/1936, đứng trên chiếc thang gỗ dựa vào tường hồi, một tay giữ thanh thang, một tay cầm bút chì. Peter đứng dưới giữ chân thang. Peter mười bảy tuổi, đã cao hơn Adrian nửa đầu, vai rộng vì hai năm khuân súc vải ở xưởng Daunt, và giữ thang bằng một tay như giữ một cây chổi.
— Bao nhiêu? Peter hỏi từ dưới.
— Bốn trăm mười hai, Adrian nói. Một trăm ba mươi bảy viên nứt. Hai mươi chín viên mất hẳn. Ba chỗ rui mục, chỗ trên phòng Nell, chỗ trên kho, và chỗ trên cầu thang.
— Chỗ cầu thang thì ai cũng biết, Peter nói. Mưa là dột vào bậc thứ năm.
— Bậc thứ sáu, Adrian nói. Bậc thứ năm khô. Nước chảy theo rui, rơi xuống bậc thứ sáu.
Peter nhìn lên, nheo mắt vì nắng.
— Cậu đo cả chỗ dột à?
— Năm ba mươi hai, Adrian nói. Mùa đông. Bằng bát.
Peter cười. Không phải cười chế. Cười như người ta cười khi nhớ ra một điều đã quên rằng mình biết.
*
Tiền lợp mái là tiền Adrian để dành từ học bổng phụ cấp sáu năm, từ những buổi chép sổ cho ông Price, từ khoản trả công đo đạc ông Ollerton gửi qua bưu điện hồi tháng Ba mà Adrian đã cố trả lại hai lần, và lần thứ ba thì ông Ollerton viết rằng nếu trả lại nữa thì sẽ gửi một con trâu. Tổng cộng bảy bảng mười hai si-linh. Đủ cho ngói, đinh đồng, ba cây rui sồi và công thợ một ngày. Không đủ cho công thợ ba ngày. Hai ngày còn lại là Adrian và Peter.
Margaret không đồng ý ngay. Margaret ngồi ở bàn bếp, đọc tờ kê Adrian viết, đọc hai lần, rồi đặt bút chì xuống và nói rằng tiền của một người mười tám tuổi là để người ấy đi xa, không phải để lợp mái cho một ngôi nhà mà người ấy sắp rời. Adrian nói Adrian không rời. Margaret nói ai cũng rời. Adrian nói vậy thì để mái còn khi người sau đến. Margaret nhìn Adrian rất lâu, rồi cầm bút chì lên và sửa một con số ở dòng thứ tư, giá đinh, vì Adrian tính giá đinh sắt chứ không phải đinh đồng, và đinh sắt sẽ gỉ trong mười năm.
— Đinh đồng, Margaret nói. Nếu làm thì làm cho mười năm.
Thế là xong.
*
Thợ lợp đến từ Kelbrook sáng thứ Hai 6/7: ông Tegg, bảy mươi tuổi, đội mũ dạ, mang theo một cái búa lợp có lưỡi rìu ở một đầu và đầu nhọn ở đầu kia. Ông Tegg không nói nhiều. Ông Tegg nhìn mái, nhìn rui, nhìn Adrian, rồi chỉ vào chỗ trên cầu thang và nói rằng cái rui này đã mục từ trước khi Adrian ra đời. Adrian nói rằng chắc vậy. Ông Tegg hỏi Adrian đo bằng gì. Adrian nói bằng bát. Ông Tegg gật, như thể đó là câu trả lời đúng.
Ông Tegg, Peter và Adrian làm từ bảy giờ sáng đến sáu giờ chiều. Ông Tegg thay rui. Peter chuyển ngói. Adrian đục lỗ đinh trên những viên ngói mới bằng chiếc đục nhỏ ông Tegg đưa, mỗi viên hai lỗ, cách mép trên một inch rưỡi, cách nhau năm inch. Lỗ phải đục từ mặt dưới lên, để mép vỡ nằm ở mặt trên, ăn vào đinh. Ông Tegg chỉ một lần. Adrian làm đúng từ viên thứ hai. Viên thứ nhất vỡ đôi.
— Viên đầu bao giờ cũng vỡ, ông Tegg nói, và nhặt hai mảnh, đặt vào góc, không vứt. Để lót máng.
Đến trưa, Alice mang bánh mì và pho mát lên, đặt vào giỏ, và Peter kéo giỏ lên bằng dây thừng. Alice đứng dưới sân, tay che mắt, nhìn ba cái bóng trên mái.
— Anh Adrian, Alice gọi. Thuyền số không chạy được rồi. Hôm qua ra giữa ao, gió đẩy về.
— Gió hướng nào? Adrian hỏi từ trên mái.
— Hướng tây, Alice nói. Em đo bằng khói ống khói nhà ông Hobbs.
Adrian dừng tay. Ông Tegg cũng dừng tay, nhìn xuống sân, rồi nhìn Adrian.
— Con bé nhà cậu à? ông Tegg hỏi.
— Em gái, Adrian nói. Không phải ruột. Em gái.
Ông Tegg gật lần nữa, và quay lại với rui.
*
Bốn ngày. Ngày thứ tư, thứ Năm 9/7, viên ngói cuối được đóng lúc năm giờ hai mươi chiều, trên chỗ cầu thang, và ông Tegg để Adrian đóng. Hai đinh đồng. Ba nhát búa mỗi đinh. Rồi ông Tegg đặt lòng bàn tay lên viên ngói, ấn, nghe, như người ta nghe một cái thùng.
— Mười năm, ông Tegg nói. Có khi hai mươi.
Đêm ấy trời mưa. Không lớn. Mưa mùa hè, đều, ấm. Adrian ngồi trên bậc thứ sáu cầu thang lúc mười một giờ đêm, một cái bát trên đầu gối, và đợi. Margaret đi ngang, cầm đèn, thấy Adrian, dừng lại.
— Khô không? Margaret hỏi.
— Khô ạ, Adrian nói.
Margaret không đi tiếp ngay. Margaret ngồi xuống bậc thứ năm, đặt đèn xuống bậc thứ tư, và hai người ngồi nghe mưa trên một mái nhà không dột lần đầu tiên từ mùa đông năm 1932. Không ai nói gì. Rồi Margaret đứng dậy, cầm đèn, và đặt tay lên vai Adrian một lúc trước khi đi, như đặt tay lên một viên ngói vừa đóng.
*
Thư Evelyn đến hai lần trong tháng Bảy.
Lá thứ nhất đến thứ Hai 13/7, phong bì kem dày, sáp xanh dấu cây sồi ba nhánh, chữ nghiêng cao, đều, mực xanh đen. Ông Pennock đặt lá thư trên cùng túi thư, đúng như đã hứa, và Joe mang về chạy cả quãng đường từ tiệm đến cổng, và đến cổng thì thở như vừa chạy từ Kelbrook.
"Thornwick, 8/7/36.
Adrian,
Cô Rosamund đã đọc đề nghị hai cột của cậu. Cô Rosamund đọc hai lần, rồi đưa lại tớ và nói: 'Cậu ấy định cho ta biết cậu ấy chưa đo gì. Hiếm có người đo nào làm thế. Phần lớn họ muốn cho ta biết họ đã đo nhiều đến đâu.' Tớ ghi nguyên văn, vì tớ biết cậu sẽ muốn nguyên văn.
Cô Rosamund chấp nhận. Có điều kiện. Cô Rosamund sẽ đặt ba luật khi cậu đến, nói trực tiếp, không viết. Tớ hỏi vì sao không viết. Cô Rosamund nói: 'Vì luật viết ra thì người ta đọc. Luật nói ra thì người ta nhớ.' Tớ không chắc tớ đồng ý. Tớ ghi vào cột 'chưa đo'.
Cô Rosamund cũng gửi kèm một danh sách câu hỏi. Tớ chép lại ở trang sau. Cô Rosamund nói đây không phải câu hỏi cho cậu trả lời bây giờ. Đây là câu hỏi người đo nên mang theo vào thung lũng, để biết khi nào mình đã trả lời được và khi nào chưa.
Thomas đã viết cho tớ. Thomas hỏi chân máy kinh vĩ Cary có vít đồng hay vít thép. Tớ đã xuống tận kho hỏi Garrick. Vít đồng. Garrick nói từ năm 1841 chưa ai thay. Tớ nói với Thomas như vậy, và Thomas viết lại một lá thư dài ba trang chỉ về vít đồng. Tớ đọc hết. Tớ không hiểu trang thứ hai. Đừng kể với Thomas.
Tảng đá canh thứ bảy vẫn lạnh. Tớ đặt tay lên mỗi sáng. Không phải lạnh như đá vào sáng sớm. Lạnh như đá vào tháng Giêng.
E. A."
Trang sau là danh sách của cô Rosamund, chữ Evelyn chép, nhưng thứ tự và cách đặt câu không phải của Evelyn. Adrian nhận ra ngay. Câu của Evelyn bao giờ cũng ngắn trước dài sau. Câu của cô Rosamund dài trước, rồi kết bằng một mệnh đề ngắn như đóng một cánh cửa.
"Một. Con suối chảy về tây ở đoạn nào, và từ năm nào bản đồ bắt đầu sai — hoặc từ năm nào con suối bắt đầu khác bản đồ.
Hai. Có chỗ nào trong thung lũng mà cỏ không mọc theo hướng gió.
Ba. Có vật gì trong thung lũng mà người đo không đo được, và người đo có biết vì sao không.
Bốn. Người đo sẽ dừng ở đâu nếu không ai bảo dừng."
Adrian đọc câu thứ tư bốn lần. Rồi chép cả bốn câu vào trang thứ ba của sổ đo bìa vải nâu, dưới hai cột còn trống. Câu thứ tư, Adrian chép lại hai lần. Lần thứ hai không phải vì sợ quên.
*
Lá thứ hai đến thứ Năm 30/7.
"Thornwick, 25/7/36.
Adrian,
Mẹ tớ hỏi cậu có ăn cá không. Tớ nói cậu ăn mọi thứ, trừ củ cải đường luộc, vì cậu đã kể năm hai rằng ở Wrenfold mùa đông năm ba mươi mốt chỉ có củ cải đường luộc suốt ba tuần. Mẹ tớ nhìn tớ một cách lạ. Tớ không biết vì sao tớ còn nhớ chuyện củ cải. Tớ không ghi vào cột nào.
Thomas đến ngày 10 cùng chuyến với cậu. Garrick đón ở ga Stonebarrow lúc mười giờ. Garrick nói nếu tàu muộn thì Garrick đợi; nếu tàu đúng giờ thì Garrick đã đợi sẵn. Tớ không biết đó là đùa hay không. Với Garrick không bao giờ biết.
Cô Rosamund bảo tớ viết thêm một dòng, và bảo tớ viết nguyên văn: 'Người đo mang theo áo ấm. Thung lũng không biết bây giờ là tháng Tám.'
Tớ hỏi cô Rosamund vậy nghĩa là gì. Cô Rosamund nói: 'Nghĩa là mang theo áo ấm.'
E. A.
T.B. Tớ đã học dựng mia. Garrick dạy. Garrick nói tớ dựng mia thẳng hơn ông thợ đo năm 1911. Tớ không biết Garrick lấy đâu ra mà so."
Adrian đọc dòng của cô Rosamund lần thứ hai, rồi lần thứ ba.
Thung lũng không biết bây giờ là tháng Tám.
Rồi Adrian đóng thư, gấp lại theo nếp cũ, đặt vào hộp thiếc dưới gầm giường cùng những lá khác, và lấy ra từ va li một thứ mà từ khi về Wrenfold Adrian chưa mở lần nào.
*
Cái hộp gỗ dài bằng bàn tay, rộng bằng ba ngón, gỗ lê, nắp trượt. Adrian mua ở cửa hàng dụng cụ ma dược Aldermoor hồi tháng Ba, giá ba si-linh, vì đó là hộp rẻ nhất có lót nỉ.
Trong hộp có ba lọ thủy tinh nâu, mỗi lọ cao hai inch, nút bần bọc sáp. Trên mỗi nhãn, chữ Adrian, nhỏ, đều: "TT-3 / lô 1 / 22.4.36". Bên cạnh ba lọ là một tờ giấy gấp tư, ghi chép năm lần thử.
TT-3. Thanh tâm, công thức thứ ba.
Ở Vân Khê tông, Lão Tần làm thanh tâm hoàn trong một cái lò đất thấp ở góc dược phòng, nơi có một nghìn hai trăm chín mươi sáu ngăn kéo. Mỗi lò mười hai viên. Mỗi viên to bằng hạt đậu, màu xanh rêu, mùi đắng như lá chè xanh để qua đêm. Lão Tần dùng thanh tâm hoàn cho những đệ tử mới nhập môn bị tâm ma quấy lần đầu, cho những người đi qua sương độc Bắc Lĩnh, và cho chính Lão Tần những đêm không ngủ được. Adrian đã đứng bên lò ấy hai mươi bảy ngày trong ba mươi ngày. Đã thuộc trình tự. Đã thuộc cả những chỗ Lão Tần dừng lại, ngửi, và đợi. Nhưng không làm được. Không phải vì không biết. Vì thiếu lá thanh tâm, thứ lá chỉ mọc ở khe núi phía bắc Vân Khê, và ở Albion không có. Biết nhưng không làm được. Adrian đã viết dòng ấy vào cột "Chưa biết" từ năm 1934, và đã nghĩ dòng ấy sẽ ở đó mãi.
Rồi mùa xuân năm sáu, ở nhà kính số hai, Adrian tìm thấy lá ngưu chỉ thảo. Lá dày, mặt dưới có lông mịn màu bạc, gân lá chạy theo hình xương cá, mùi đắng như lá chè để qua đêm. Adrian đã so năm đặc điểm với trí nhớ. Năm trên năm. Không phải lá thanh tâm. Nhưng là một loài thân thích xa, đủ gần.
Không có lò đất. Không có linh hỏa. Không có những viên đan nặn tay. Adrian không thể làm thanh tâm hoàn ở Albion. Nhưng có thể làm một thứ khác, theo cùng một ý: một dạng cồn ngâm, chưng cách thủy ba lần, rút lấy cái đắng mà giữ cái trong. Lần thứ nhất hỏng, vì lửa đèn cồn ở phòng C-2 quá nóng. Lần thứ hai đục, vì thiếu thứ Lão Tần gọi là "giọt dẫn", một thứ để cái đắng không làm cho đầu đặc lại. Lần thứ ba, Adrian dùng mật ong Thornwick, nửa thìa, từ hũ Evelyn đưa hôm bốn đường ống sương, và chín giọt sương chuông sương còn giữ trong lọ pha lê từ buổi hái sương năm năm, buổi sáng mà Evelyn đã cầm lọ và Adrian đã cầm đèn.
Lần thứ ba trong.
Adrian thử trên chính mình. Năm lần, từ 22/4 đến 18/5, mỗi lần ghi giờ, liều, mạch, nhịp thở trước và sau, và một dòng mô tả. Ba giọt dưới lưỡi: đầu nhẹ hơn, như đứng ở cửa sổ mở. Sáu giọt: tiếng ồn trong phòng tách ra thành từng tiếng riêng, như mở một bản nhạc đã nghe nhiều lần và lần đầu nghe ra từng nhạc cụ. Chín giọt: lần thứ năm, Adrian ngồi trước gương ở phòng C-2, thở chín hơi, và nhìn vào gương trong mười một phút mà không thấy gì ngoài chính mình. Đó là điều Adrian muốn thử. Gương ở phòng C-2 là gương thường. Nhưng Adrian muốn biết.
Không thử trên ai khác. Không đăng ký. Không kể với thầy Mott, người ký giấy cho Adrian vào C-2 mỗi thứ Ba và thứ Sáu. Không kể với Thomas. Không kể với Evelyn.
Lý do làm là một dòng trong ghi chép của bà Ottoline Marsh.
Năm 1911, bà Marsh khảo sát Skelldale, một thung lũng nằm hai bậc về phía bắc Harrowdene. Ghi chép thực địa của bà Marsh, bản sao trong thư viện tầng hai, kệ địa lý ma pháp, có tám mươi trang. Trang bốn mươi bảy có một đoạn ngắn: "Người chăn cừu ở đầu thung lũng nói rằng vào những năm có sương lạ, người đi đêm dưới đáy hẻm ngủ đứng, mắt mở, và sáng ra kể về tuyết. Người dẫn đường, ông Whinn, nói chuyện ấy cũng có ở Harrowdene, từ đời ông nội người dẫn đường. Không xác minh được." Dưới đó, chữ khác, mực khác: "Đáy hẻm: không khảo sát."
Adrian đọc đoạn ấy lần đầu vào tháng Hai, sau khi Evelyn viết rằng năm nào cây sồi trên ô cửa ra quả thì năm ấy phải có người đi xuống thung lũng. Đọc lại vào tháng Ba. Đến tháng Tư thì tìm thấy lá ngưu chỉ thảo.
Adrian không biết sương ở Harrowdene là sương gì. Không biết có sương hay không. Không biết "ngủ đứng, mắt mở" là gì. Ghi chép của bà Marsh ghi "không xác minh được", và Adrian tôn trọng chữ ấy. Nhưng ở Vân Khê, ở Bắc Lĩnh, có một thứ sương mà Lão Tần gọi là "sương thực mộng", thứ sương làm người ta ngủ mà vẫn đi, và tin vào điều mình thấy trong giấc ngủ hơn điều mình thấy khi thức. Thanh tâm hoàn là để chống thứ sương ấy.
Có thể không giống. Có thể không có gì. Adrian đã viết ở cột "Chưa biết": "Sương Harrowdene: chưa biết có hay không. Nếu có: chưa biết là gì." Và ở dòng dưới: "Mang theo vẫn hơn."
*
Adrian ngồi trên giường gác mái, hộp gỗ lê mở trên đùi, nhìn ba lọ thủy tinh nâu.
Có một lý do để kể. Thomas sẽ đi cùng. Evelyn sẽ đi cùng. Nếu có sương, và nếu sương là sương ấy, thì một người không biết trong hộp có gì sẽ không biết phải hỏi. Evelyn đã nói ở bậc thềm thư viện, tháng Mười Hai năm ngoái: tớ nói trong ngày. Adrian đã hứa lại, ở cuối thư: trong ngày.
Có một lý do để không kể. Kể thì phải kể lá ngưu chỉ thảo giống lá gì. Kể thì phải kể trình tự học ở đâu. Kể thì phải kể Lão Tần. Và Lão Tần ở một nơi mà Adrian chưa thể kể, với bất cứ ai, kể cả Margaret.
Còn một lý do nữa, nhỏ hơn, mà Adrian chỉ thừa nhận với chính mình lúc gần nửa đêm: nếu kể, mà không có sương, thì Adrian sẽ là người đã mang một lọ thuốc chưa đăng ký đến nhà một gia tộc thuần huyết vì một đoạn ghi chép "không xác minh được". Và Evelyn sẽ nhìn Adrian theo một cách mà Adrian không muốn thấy.
Adrian viết vào sổ bìa xám, cột "Chưa biết", dòng mười sáu: "TT-3: chưa kể. Lý do kể: hai. Lý do không kể: hai. Một trong hai lý do không kể là sợ." Rồi nhìn dòng ấy một lúc. Rồi không gạch.
Đặt hộp gỗ lê vào va li, dưới áo len xám, cạnh đôi găng tay Evelyn đan, chiếc găng trái có ngón trỏ dài hơn một đốt.
*
Những ngày cuối tháng Bảy và đầu tháng Tám, Adrian chuẩn bị theo cách vẫn chuẩn bị.
Sổ đo bìa vải nâu: ba điều ở trang đầu, hai cột ở trang hai, bốn câu hỏi ở trang ba. Bản sao tay bản đồ Ancel năm 1803, vẽ lại từ bản trong thư viện Highcombe, tỷ lệ một phần mười nghìn, có lưới. Bản sao ghi chép bà Marsh, tám trang liên quan. Một cuộn dây gai mười một thước có thắt nút mỗi thước, vì Thomas sẽ mang xích đo nhưng xích đo có thể sai. Đèn bỏ túi, hai bấc dự phòng. Áo len xám Margaret đan năm ba, tay đã ngắn. Áo khoác dạ. Găng tay. Ba lọ TT-3 trong hộp gỗ lê. Một chiếc còi thiếc, của Peter, Peter đưa sáng thứ Sáu 7/8 mà không nói gì, chỉ đặt vào tay Adrian ở cửa bếp.
— Để làm gì? Adrian hỏi.
— Nếu lạc, Peter nói. Thổi ba hồi. Người ta nghe được còi thì tìm được. Peter dừng. Ở xưởng có đứa lạc trong kho bông một lần. Ba tiếng. Không ai tìm thấy vì không ai biết nó ở đâu.
Adrian nhận còi. Không nói rằng có thể không cần. Peter biết. Peter đưa vì Peter muốn đưa.
Alice đưa một mẩu giấy gấp nhỏ, bảo đến Thornwick mới được mở. Joe đưa một viên sỏi trắng nhặt ở ao, bảo để biết đường về. Nell không đưa gì, vì Nell đang giận Adrian chuyện Adrian đi mà không mang Nell theo, nhưng tối thứ Bảy Nell ngồi cạnh Adrian ở bàn bếp, sát hơn mọi khi, và không nói gì.
Margaret đưa một tờ giấy ghi địa chỉ bác sĩ gần nhất ở Stonebarrow. Margaret đã viết thư hỏi ông Pennock. Ông Pennock đã hỏi người đưa thư chuyến Giới Môn. Tờ giấy có ba địa chỉ, theo thứ tự gần nhất.
— Cháu không cần đâu ạ, Adrian nói. Thornwick có người.
— Ta biết, Margaret nói. Đây là cho ta. Để ta biết cháu có.
Adrian gấp tờ giấy, đặt vào túi áo khoác trong, cạnh còi thiếc.
*
Tối Chủ nhật 9/8, Adrian ăn tối sớm. Súp đậu, bánh mì, một miếng pho mát. Không có củ cải đường. Margaret đã để ý.
Đồng hồ trên lò sưởi chỉ sáu giờ bốn mươi khi Adrian đứng dậy. Tàu đêm đi Kelbrook lúc bảy giờ hai mươi. Từ Kelbrook, chuyến nối đến ga Giới Môn lúc hai giờ sáng. Qua Giới Môn cùng chuyến thư sáng thứ Hai, lúc năm giờ. Đến Stonebarrow lúc chín giờ bốn mươi.
Peter xách va li ra ga. Không ai bảo Peter xách. Alice đi theo, rồi Joe, rồi Sam, rồi Nell, vẫn giận, đi sau cùng, cách mọi người ba bước. Margaret đứng ở cổng.
Ở ga, tàu đã vào. Peter đặt va li lên bậc toa. Adrian quay lại.
Nell vẫn đứng cách ba bước. Nhìn đường ray, không nhìn Adrian.
Adrian đi lại ba bước, ngồi xuống cho ngang tầm Nell.
— Anh viết thư cho Nell, Adrian nói. Một lá riêng. Ngày thứ ba.
Nell không nhìn lên.
— Ngày thứ ba thì Margaret, Nell nói.
— Margaret một lá, Nell một lá, Adrian nói. Cùng ngày. Hai lá.
Nell nghĩ. Lâu. Lâu như Margaret đọc tờ kê.
— Viết cái gì? Nell hỏi.
— Viết con suối chảy hướng nào, Adrian nói.
Nell gật. Rồi bước một bước, ôm cổ Adrian, nhanh, chặt, và buông ra, và chạy về phía Alice. Không nói gì.
Còi tàu kêu. Adrian lên toa.
*
Toa hạng ba gần như trống. Một hành khách mặc áo choàng xám, đội mũ rơm — ngủ ở góc cuối toa, giỏ mây trên đùi. Adrian ngồi ở ghế cạnh cửa sổ, va li đặt dưới chân, áo khoác gấp trên đùi.
Tàu chạy. Ánh đèn ga Wrenfold lùi lại, nhỏ dần, rồi mất sau rặng du ven đường ray.
Adrian lấy mẩu giấy Alice đưa ra. Alice bảo đến Thornwick mới được mở. Adrian nhìn mẩu giấy gấp tư, một lúc, rồi cất lại vào túi áo, không mở.
Tàu đi qua cầu sông Lune lúc tám giờ năm phút. Mặt sông tối, có một vệt đỏ cuối cùng của hoàng hôn trên nước. Adrian nhìn vệt đỏ ấy cho đến khi tàu qua hết cầu.
Rồi nhắm mắt. Thở chín hơi. Không đi xuống. Chỉ đếm.
Trên toa tàu đêm, giữa Wrenfold và Kelbrook, Adrian Vale, mười tám tuổi, học đồ bậc hai, đứng thứ mười một năm sáu, mang theo một cuốn sổ đo có hai cột còn trống, bốn câu hỏi chưa trả lời, một chiếc còi thiếc, một viên sỏi trắng, một mẩu giấy chưa mở, một địa chỉ bác sĩ, và ba lọ thủy tinh nâu mà không ai biết.
Trong sổ bìa xám, dòng mười sáu cột "Chưa biết" vẫn ở đó, không gạch.
Ngoài cửa sổ, đồng cỏ tháng Tám chạy qua trong bóng tối, ấm, khô, đầy tiếng dế. Mùa hè. Ở đây vẫn là mùa hè.