Đại Phù Thủy - Tác giả Tri Hành
Chương 169. Chuong 169
Chương 169 — Lời mời của Bá tước
Túi thư Giới Môn chuyến thứ Năm 17 tháng Chín không về Wrenfold thứ Năm.
Ông Pennock giải thích việc ấy chiều thứ Sáu, với Adrian và với bất kỳ ai vào tiệm, theo cùng một cách, bằng cùng những chữ: sương ở Stonebarrow. Không phải sương thường. Sương ở ga phía phù thủy, dày đến mức người gác cổng chuyến sáng thứ Năm không thấy được ngọn đèn hiệu trên trụ Giới Môn, và theo quy định, khi không thấy đèn hiệu thì không mở cổng. Túi thư nằm lại ở phòng gác một ngày. Sáng thứ Bảy, người gác cổng trẻ đeo kính làm ca thứ Bảy mở cổng lúc sáu giờ, sương đã tan, và túi thư đi chuyến xe thư sớm về Kelbrook, rồi chuyến xe đạp của người con trai nhà Corrie về Wrenfold, đến tiệm ông Pennock lúc mười giờ bốn mươi sáng thứ Bảy 19 tháng Chín.
— Bốn mươi hai năm ta làm bưu điện, ông Pennock nói, đặt ba phong bì lên quầy trước mặt Adrian. Ta chưa thấy túi thư phía bên ấy trễ vì sương lần nào. Lần này là lần đầu.
Adrian nhìn ba phong bì.
Phong bì thứ nhất: màu kem, giấy dày, có dấu sáp xanh đậm in hình một cây sồi trong vòng tròn. Chữ ngoài phong bì không phải chữ Evelyn. Chữ to, thẳng, nét đậm, chữ của người viết ít nhưng viết chắc. "Gửi ông Adrian Vale, Wrenfold."
Phong bì thứ hai: màu xám xanh, giấy mỏng, chữ nghiêng cao, đều, mực xanh đen. Dày. Rất dày.
Phong bì thứ ba: không phong bì. Một ống giấy cuộn tròn, buộc bằng dây gai, có một nhãn nhỏ: "Bản sao. Không phải bản gốc. Không chép lại. R. A."
Adrian cầm cả ba. Cảm ơn ông Pennock. Đi ra ghế dài trước tiệm.
Rồi không ngồi xuống ghế dài. Đi tiếp. Về cô nhi viện, lên cầu thang, lên phòng áp mái, đóng cửa. Ba phong bì này, Adrian nghĩ, không phải thứ để mở trên ghế dài trước tiệm bưu điện.
*
Mở thư của Evelyn trước.
Không phải vì thứ tự. Vì Adrian nhận ra tay mình đã cầm phong bì xám xanh lên trước khi đầu quyết định.
"Thornwick, Chủ nhật 13 tháng Chín.
Adrian,
Đây là thư thứ ba. Thư thứ hai cậu đã nhận thứ Hai tuần trước, cái thư chỉ có bảng số và một câu. Tớ xin lỗi vì cái thư ấy. Tớ đã định viết dài. Rồi tớ nhìn bảng số và nghĩ: người đo thích bảng số. Rồi tớ gửi đi. Rồi tớ nghĩ: người đo thích bảng số, nhưng không phải chỉ thích bảng số. Rồi đã muộn, Pratt đã mang ra xe thư.
Thư này không có bảng số. Bảng số ở tờ đính kèm. Thư này là chữ.
Ba việc.
Việc thứ nhất. Cha tớ viết cho cậu. Phong bì có dấu sáp cây sồi là của cha tớ. Tớ không biết trong đó viết gì. Thật đấy. Cha tớ viết trong thư phòng, đóng cửa, ba buổi tối, và không cho ai đọc, kể cả mẹ tớ. Mẹ tớ bảo: “Ông ấy viết thư như ông ấy lái xe. Chậm, và nghĩ rằng không ai nhìn.” Nhưng tớ đoán được. Cậu sẽ đọc rồi biết tớ đoán đúng không.
Nếu tớ đoán đúng, thì tớ muốn nói trước: cậu không phải nhận lời. Cậu có thể nói không. Tớ sẽ không giận. Tớ sẽ hơi giận. Nhưng không lâu.
Việc thứ hai. Mẹ tớ đã đọc sổ đo của tớ.
Tớ có sổ đo rồi. Bìa da, màu xanh đậm, cô Rosamund cho, của cụ cố tớ, còn trống từ trang mười hai trở đi. Tớ ghi từ trang mười hai. Tớ chia hai cột như cậu. Cột “Đo được” và cột “Chưa đo được”. Mỗi sáng sáu giờ tớ xuống tảng đá thứ bảy với nhiệt kế của cậu. Mười sáu độ, đúng như ngày cậu đi. Hai mươi chín buổi sáng liền, mười sáu độ, trừ ba buổi mười lăm rưỡi, vào ba buổi có sương. Vòng sỏi trắng dưới đáy ao vẫn bốn thước, tớ đo bằng sợi dây có nút của Thomas. Con suối vẫn về đông. Ô kính số bảy ở thư phòng phía bắc vẫn lạnh hơn, giờ là một độ. Nó đang ấm dần. Tớ không biết nghĩa là gì. Tớ ghi.
Tối thứ Năm, mẹ tớ vào phòng tớ lúc tớ đi tắm, và đọc sổ đo. Tớ biết vì khi tớ ra, sổ đã nằm khác chỗ, và ở cột “Đo được”, dòng cuối cùng, có một dòng chữ không phải của tớ. Chữ mẹ tớ. Nhỏ, tròn, mực tím, chữ mẹ tớ viết thiệp mời.
Mẹ tớ viết: “Evelyn cười ở bữa tối: bốn lần trong tuần này. Tháng Bảy: không lần nào. — H. A., đo bằng mắt.”
Tớ đã ngồi trên giường nhìn dòng ấy rất lâu.
Tớ đã định gạch. Đó là sổ của tớ. Cột của tớ. Không ai được viết vào. Rồi tớ nhớ cậu nói: một số đo đúng thì không gạch, kể cả khi mình không thích nó.
Tớ không gạch.
Sáng hôm sau, ở bữa sáng, tớ không nói gì về dòng ấy. Mẹ tớ cũng không nói gì. Mẹ tớ chỉ đưa tớ lọ mứt cam, mà mẹ tớ chưa bao giờ đưa, vì mẹ tớ nghĩ người làm phải đưa. Và tớ cười. Lần thứ năm.
Tớ ghi vào cột. Chữ tớ, dưới chữ mẹ tớ: “Thứ Sáu: năm. — E. A.”
Cậu đừng cười. Tớ biết cậu đang cười.
Việc thứ ba. Cô Rosamund gửi cậu một thứ. Ống giấy cuộn. Cô Rosamund nói cậu hiểu nhãn. Cô Rosamund nói đó là trang năm 1658, bản sao chính tay cô Rosamund chép, mất mười một buổi tối, vì chữ cổ, và vì cô Rosamund chép bằng tay phải chưa quen sau khi cổ tay trái nẹp. Cô Rosamund nói: “Bảo người đo, ta đã đọc được bảy phần mười. Ba phần mười còn lại là chữ mà ta không đọc được. Ta không đoán. Ta để trống. Người đo có từ điển chép tay ở thư viện Highcombe. Ta không có.” Tớ không biết từ điển nào. Cô Rosamund bảo cậu biết.
Và cô Rosamund trả lời câu cậu hỏi trong thư 31 tháng Tám. Về số liệu vũng xoay năm 1797. Cô Rosamund có bốn điểm. Ở tờ thứ hai trong ống giấy. Cô Rosamund bảo gửi cả cho Thomas.
Đó là ba việc.
Còn một việc nữa. Không phải việc.
Hôm qua tớ đi qua bãi cỏ dưới Cửa. Bãi cỏ có mười hai cái cọc. Ông Whinn không nhổ cọc. Ông Whinn nói: “Người đo đóng cọc. Người đo nhổ.” Nên cọc vẫn còn. Cừu ăn cỏ quanh cọc, nhưng không ăn sát cọc, nên quanh mỗi cọc có một vòng cỏ cao hơn. Mười hai vòng cỏ cao. Từ trên đồi nhìn xuống, trông như ai đó đã viết mười hai dấu chấm lên bãi cỏ.
Tớ đứng nhìn rất lâu. Rồi tớ nghĩ: lúc cậu đóng cọc, cậu sợ bãi cỏ sẽ mất. Bãi cỏ không mất. Nhưng cọc còn. Và bây giờ cọc là thứ duy nhất ở Thornwick cho thấy đã có người sợ một điều, và đã làm một việc vì điều ấy, và điều ấy đã không xảy ra.
Tớ nghĩ đó là thứ đẹp nhất ở Thornwick tháng này.
Tớ sẽ không nói câu ấy lần thứ hai. Cậu đọc một lần thôi.
Evelyn.
Tái bút. Thư thứ hai, cái thư chỉ có bảng số và một câu. Câu ấy là: “Tớ đã tự đo.” Tớ muốn cậu biết là tớ đã viết câu ấy và sửa ba lần, và cả ba lần đều chỉ là bốn chữ ấy, chỉ khác dấu chấm. Lần đầu là chấm than. Lần hai là chấm hỏi. Lần ba là chấm. Tớ gửi chấm."
*
Adrian đặt thư xuống bàn.
Rồi cầm lên. Đọc lại đoạn về mười hai cái cọc.
Rồi đặt xuống. Lần này úp mặt chữ xuống bàn, như úp một thứ cần để yên một lúc.
Cửa sổ phòng áp mái mở hé. Gió tháng Chín. Trên bậu cửa sổ, cái đĩa sứ với mười một hạt Lammas: một mầm, rễ năm li, về phía tây. Mười hạt chưa động.
Adrian nhìn cái mầm. Nghĩ đến mười hai vòng cỏ cao quanh mười hai cái cọc. Nghĩ đến chữ "Tớ đã tự đo." với dấu chấm, sau một dấu chấm than và một dấu chấm hỏi. Nghĩ đến Evelyn ngồi trên giường nhìn dòng chữ mực tím của Nữ bá tước Helena.
Adrian nhận ra mình đang cười. Không thành tiếng. Đúng như Evelyn đã biết.
Rồi Adrian lật tờ đính kèm. Bảng số của Evelyn, kẻ bằng thước, mực xanh đen, ba cột: ngày, giờ, độ. Hai mươi chín dòng. Ở ba dòng có sương, Evelyn ghi thêm một chữ nhỏ ở lề: "sương". Ở dòng ngày 3 tháng Chín, Evelyn ghi: "Hôm nay tay run, đọc vạch hai lần. Lần hai đúng." Không ai dạy Evelyn ghi điều ấy. Adrian đã ghi những dòng như thế trong sổ của mình từ năm mười hai tuổi, và chưa bao giờ cho Evelyn xem trang nào có những dòng ấy.
Evelyn đã tự tìm ra rằng người đo cũng phải ghi tay mình run.
*
Phong bì có dấu sáp cây sồi.
Adrian cắt mép phong bì bằng con dao gọt bút chì, không bóc sáp. Trong phong bì: một tấm thiệp dày, viền mạ vàng nhạt, và một tờ thư gấp đôi.
Tấm thiệp in sẵn, chữ in đồng:
"Bá tước và Nữ bá tước Ashbourne trân trọng kính mời
ông Adrian Vale
đến Thornwick
từ thứ Hai 28 tháng Mười Hai năm 1936
đến thứ Sáu 1 tháng Một năm 1937.
Xin hồi âm."
Ở chỗ trống sau chữ "kính mời", tên Adrian được viết tay bằng mực đen, nét to, thẳng. Cùng chữ ngoài phong bì.
Tờ thư:
"Thornwick, 10 tháng Chín 1936.
Ông Vale,
Ta không viết thư nhiều. Ta viết thư này ba tối, vì ta muốn viết đúng.
Thiệp mời in theo mẫu của nhà ta. Mẫu ấy dùng từ năm 1880. Chữ “trân trọng kính mời” là chữ của mẫu. Chữ của ta là thế này: ta muốn cậu đến.
Không phải để đo. Ta không mời người đo. Ta mời một người đã ở trong thung lũng của nhà ta một đêm mà ta không ở đó, và đã đưa con gái ta về.
Ta biết cậu sẽ nói không phải cậu đưa về. Rosamund đã kể với ta. Evelyn cầm đèn. Evelyn dẫn. Cậu đi sau. Ta biết. Nhưng ta là cha. Và cha thì không đếm theo cách của người đo.
Năm mới ở Thornwick có ba việc. Đêm 31, tá điền đến hội trường lớn, Evelyn chơi đàn, có nhảy. Sáng 1 tháng Một, nhà ta xuống thung lũng trước bình minh, đến tảng đá thứ bảy. Đó là tục của nhà Ashbourne từ năm 1724. Henry Ashbourne bắt đầu. Ta không biết vì sao. Rosamund biết, nhưng không nói. Và trong mấy ngày ấy, Rosamund sẽ mở thư khố cho cậu, trong phạm vi đã ghi.
Cậu không phải nhảy. Ta không nhảy. Ta đứng ở góc hội trường và nói chuyện với ông Whinn về cừu. Cậu có thể đứng cùng ta.
Ta có một điều chưa nói với cậu ở ga Stonebarrow. Ta sẽ không nói trong thư. Ta sẽ nói khi cậu đến, nếu cậu đến.
Garrick gửi lời: tay đã tháo nẹp. Ta lại không được lái xe.
Edmund Ashbourne.
Tái bút. Vợ ta muốn thêm một dòng. Ta đã nói không. Vợ ta đã thêm."
Và ở cuối tờ thư, dưới chữ ký, bằng mực tím, chữ nhỏ, tròn:
"Mang theo áo khoác dày. Hành lang phía bắc lạnh. Và cậu đã hứa với ta một lần sau. — H. A."
*
Adrian ngồi yên lâu.
Lời mời của một Bá tước. Viết tay. Ba tối. "Ta muốn cậu đến." Và "Ta có một điều chưa nói với cậu." Điều Bá tước Edmund đã không nói ở ga Stonebarrow, mà Adrian đã ghi trong sổ xám là "chưa kể được", cùng cột với những thứ của chính Adrian.
Adrian đặt tấm thiệp lên bàn, cạnh thư của Evelyn.
Rồi lấy sổ xám. Không phải để ghi về lời mời. Để ghi một câu của Bá tước Edmund, dòng 23, cột "Đã biết":
"19/9. Bá tước E. A.: "Cha thì không đếm theo cách của người đo." Đúng. Có nhiều cách đếm. Rowan đếm nhịp. Nữ bá tước H. A. đếm bằng mắt. Bá tước đếm theo cách của cha."
Rồi Adrian nhìn câu ấy và nghĩ đến Margaret. Margaret đếm theo cách nào?
Adrian không biết. Adrian ghi câu hỏi ấy vào cột "Chưa biết". Dòng 24.
*
Ống giấy cuộn mở cuối cùng.
Hai tờ.
Tờ thứ hai trước, vì ngắn. Chữ cô Rosamund, nét tay phải chưa quen, run hơn nét thường, nhưng thẳng:
"Vũng xoay, sổ riêng R. A., tháng Tám 1797.
1/8: chu kỳ ước 12 phút (đếm bằng đồng hồ cát nửa giờ của cha ta, sai số lớn).
6/8: 10 phút.
10/8: 8 phút rưỡi.
13/8: 7 phút.
Mở: 13/8, khoảng hai giờ sáng (đồng hồ quả lắc ở thư phòng, chạy nhanh, không biết nhanh bao nhiêu).
Gửi người vẽ. — R. A."
Bốn điểm. Cộng thời điểm mở.
Adrian lấy giấy kẻ ô. Vẽ nhanh, không phải vẽ cẩn thận, chỉ để nhìn. Trục ngang là ngày. Trục dọc là chu kỳ. Bốn điểm.
Gần như thẳng hàng.
Kéo đường thẳng qua bốn điểm, kéo dài về phía phải, đường thẳng chạm trục ngang ở giữa ngày 13 và ngày 14. Gần hai giờ sáng ngày 14. Hàm của Thomas.
Adrian nhìn đường thẳng ấy, và nhìn độ dốc.
Độ dốc của năm 1797: khoảng bốn mươi giây một ngày.
Độ dốc của năm 1936, từ tám điểm của Thomas: Adrian lấy sổ đo, tìm trang có bảng số. Khoảng bốn mươi hai giây một ngày.
Gần bằng nhau. Trong sai số của một cái đồng hồ cát nửa giờ năm 1797.
Nếu hai độ dốc bằng nhau, thì k là một hằng số. Của cây cầu. Hoặc của thung lũng. Hoặc của một thứ gì đó mà cả hai đều thuộc về.
Adrian đặt bút chì xuống. Không suy. Ghi. Ghi vào sổ đo, trang mới: "1797 và 1936: độ dốc gần bằng (40 và 42 giây/ngày). Nếu k là hằng số, thì có thể biết trước. Không phải biết năm. Biết ngày, khi vũng xoay bắt đầu." Rồi gạch dưới chữ "khi vũng xoay bắt đầu", vì cái ấy vẫn là thứ không biết.
Rồi chép lại bốn điểm cho Thomas. Gửi chuyến thứ Hai.
*
Tờ thứ nhất.
Trang năm 1658.
Cô Rosamund đã chép trên giấy thư khố, khổ lớn, giữ đúng cách xếp dòng của bản gốc, mỗi dòng đánh số ở lề trái bằng mực đỏ. Ba mươi tư dòng. Chữ của năm 1658 không phải chữ của năm 1724. Chữ của Henry Ashbourne năm 1724, Adrian đã đọc được ở thư phòng phía bắc. Chữ này cũ hơn. Nét gãy hơn. Có những chữ cái Adrian không nhận ra, như chữ "s" dài trông giống chữ "f", và những chữ viết tắt bằng một gạch ngang trên đầu.
Cô Rosamund đã đọc được bảy phần mười. Phần đọc được, cô Rosamund chép lại bằng chữ thường ở dòng dưới, mực xanh. Phần không đọc được, cô Rosamund để trống, kẻ một khung chữ nhật nhỏ bằng bút chì, đúng chiều dài của chữ trong bản gốc.
Mười một khung chữ nhật.
Adrian đọc phần mực xanh.
Dòng 1: "Năm của Chúa 1658, tháng Tám, ngày mười ba, đêm."
Dòng 4: "Nửa cây cầu mở ra ở chân [khung] dưới Cửa."
Dòng 9: "Người giữ [khung] nói đây không phải lần đầu."
Dòng 17: "Nói rằng có [khung] cầu, như cầu này, ở những nơi khác, và [khung] đá."
Dòng 23: "Và một [khung]."
Dòng 31: "Ghi để người sau biết."
Adrian dừng ở dòng 17. Đọc lại.
"Có [khung] cầu, như cầu này, ở những nơi khác, và [khung] đá."
Trong khung đầu tiên, chữ gốc ngắn: năm chữ cái, có lẽ sáu, và chữ cái đầu có một nét móc. Trong khung thứ hai, chữ gốc cũng ngắn, cùng chiều dài, cùng nét móc ở đầu.
Hai chữ giống nhau.
Adrian lấy kính lúp từ ngăn kéo. Cúi xuống. Nhìn chữ gốc trong khung thứ nhất, rồi khung thứ hai. Cùng nét. Cùng cách viết tắt. Cùng một chữ.
Một con số, có lẽ. Một con số viết bằng chữ.
Adrian nhìn dòng 23. "Và một [khung]." Khung này dài hơn. Bảy hoặc tám chữ cái.
Adrian ngồi thẳng lên. Đặt kính lúp xuống.
Thư viện Highcombe, dãy chín, ngăn thấp. Một cuốn từ điển chép tay chữ cổ phù thủy miền bắc, tập hai, mà thầy Holt đã chỉ cho Adrian năm năm, khi Adrian đọc bản đồ Ancel năm 1803. Cuốn từ điển ấy không được mang ra khỏi thư viện. Nhưng Adrian đã chép tay một phần, phần các con số và các chữ viết tắt thường gặp, mười hai trang, kẹp trong cuốn sổ bìa vải nâu, trang cuối.
Adrian mở sổ đo. Lật đến trang cuối.
Mười hai trang chép tay. Bút chì. Năm 1935. Chữ của Adrian năm mười sáu tuổi.
Adrian bắt đầu so.
Ngoài cửa sổ, chiều thứ Bảy ngả dần. Tiếng Joe ở sân sau, đếm sỏi. Tiếng Margaret ở bếp, gọi Nell. Tiếng một chiếc xe ngựa đi qua đường làng.
Đến khi Alice gõ cửa gọi ăn tối, Adrian đã điền được một khung.
Khung thứ nhất ở dòng 17. Năm chữ cái. Nét móc ở đầu là cách viết tắt của số đếm. Theo trang bảy trong mười hai trang chép tay.
Bảy.
Túi thư Giới Môn chuyến thứ Năm 17 tháng Chín không về Wrenfold thứ Năm.
Ông Pennock giải thích việc ấy chiều thứ Sáu, với Adrian và với bất kỳ ai vào tiệm, theo cùng một cách, bằng cùng những chữ: sương ở Stonebarrow. Không phải sương thường. Sương ở ga phía phù thủy, dày đến mức người gác cổng chuyến sáng thứ Năm không thấy được ngọn đèn hiệu trên trụ Giới Môn, và theo quy định, khi không thấy đèn hiệu thì không mở cổng. Túi thư nằm lại ở phòng gác một ngày. Sáng thứ Bảy, người gác cổng trẻ đeo kính làm ca thứ Bảy mở cổng lúc sáu giờ, sương đã tan, và túi thư đi chuyến xe thư sớm về Kelbrook, rồi chuyến xe đạp của người con trai nhà Corrie về Wrenfold, đến tiệm ông Pennock lúc mười giờ bốn mươi sáng thứ Bảy 19 tháng Chín.
— Bốn mươi hai năm ta làm bưu điện, ông Pennock nói, đặt ba phong bì lên quầy trước mặt Adrian. Ta chưa thấy túi thư phía bên ấy trễ vì sương lần nào. Lần này là lần đầu.
Adrian nhìn ba phong bì.
Phong bì thứ nhất: màu kem, giấy dày, có dấu sáp xanh đậm in hình một cây sồi trong vòng tròn. Chữ ngoài phong bì không phải chữ Evelyn. Chữ to, thẳng, nét đậm, chữ của người viết ít nhưng viết chắc. "Gửi ông Adrian Vale, Wrenfold."
Phong bì thứ hai: màu xám xanh, giấy mỏng, chữ nghiêng cao, đều, mực xanh đen. Dày. Rất dày.
Phong bì thứ ba: không phong bì. Một ống giấy cuộn tròn, buộc bằng dây gai, có một nhãn nhỏ: "Bản sao. Không phải bản gốc. Không chép lại. R. A."
Adrian cầm cả ba. Cảm ơn ông Pennock. Đi ra ghế dài trước tiệm.
Rồi không ngồi xuống ghế dài. Đi tiếp. Về cô nhi viện, lên cầu thang, lên phòng áp mái, đóng cửa. Ba phong bì này, Adrian nghĩ, không phải thứ để mở trên ghế dài trước tiệm bưu điện.
*
Mở thư của Evelyn trước.
Không phải vì thứ tự. Vì Adrian nhận ra tay mình đã cầm phong bì xám xanh lên trước khi đầu quyết định.
"Thornwick, Chủ nhật 13 tháng Chín.
Adrian,
Đây là thư thứ ba. Thư thứ hai cậu đã nhận thứ Hai tuần trước, cái thư chỉ có bảng số và một câu. Tớ xin lỗi vì cái thư ấy. Tớ đã định viết dài. Rồi tớ nhìn bảng số và nghĩ: người đo thích bảng số. Rồi tớ gửi đi. Rồi tớ nghĩ: người đo thích bảng số, nhưng không phải chỉ thích bảng số. Rồi đã muộn, Pratt đã mang ra xe thư.
Thư này không có bảng số. Bảng số ở tờ đính kèm. Thư này là chữ.
Ba việc.
Việc thứ nhất. Cha tớ viết cho cậu. Phong bì có dấu sáp cây sồi là của cha tớ. Tớ không biết trong đó viết gì. Thật đấy. Cha tớ viết trong thư phòng, đóng cửa, ba buổi tối, và không cho ai đọc, kể cả mẹ tớ. Mẹ tớ bảo: “Ông ấy viết thư như ông ấy lái xe. Chậm, và nghĩ rằng không ai nhìn.” Nhưng tớ đoán được. Cậu sẽ đọc rồi biết tớ đoán đúng không.
Nếu tớ đoán đúng, thì tớ muốn nói trước: cậu không phải nhận lời. Cậu có thể nói không. Tớ sẽ không giận. Tớ sẽ hơi giận. Nhưng không lâu.
Việc thứ hai. Mẹ tớ đã đọc sổ đo của tớ.
Tớ có sổ đo rồi. Bìa da, màu xanh đậm, cô Rosamund cho, của cụ cố tớ, còn trống từ trang mười hai trở đi. Tớ ghi từ trang mười hai. Tớ chia hai cột như cậu. Cột “Đo được” và cột “Chưa đo được”. Mỗi sáng sáu giờ tớ xuống tảng đá thứ bảy với nhiệt kế của cậu. Mười sáu độ, đúng như ngày cậu đi. Hai mươi chín buổi sáng liền, mười sáu độ, trừ ba buổi mười lăm rưỡi, vào ba buổi có sương. Vòng sỏi trắng dưới đáy ao vẫn bốn thước, tớ đo bằng sợi dây có nút của Thomas. Con suối vẫn về đông. Ô kính số bảy ở thư phòng phía bắc vẫn lạnh hơn, giờ là một độ. Nó đang ấm dần. Tớ không biết nghĩa là gì. Tớ ghi.
Tối thứ Năm, mẹ tớ vào phòng tớ lúc tớ đi tắm, và đọc sổ đo. Tớ biết vì khi tớ ra, sổ đã nằm khác chỗ, và ở cột “Đo được”, dòng cuối cùng, có một dòng chữ không phải của tớ. Chữ mẹ tớ. Nhỏ, tròn, mực tím, chữ mẹ tớ viết thiệp mời.
Mẹ tớ viết: “Evelyn cười ở bữa tối: bốn lần trong tuần này. Tháng Bảy: không lần nào. — H. A., đo bằng mắt.”
Tớ đã ngồi trên giường nhìn dòng ấy rất lâu.
Tớ đã định gạch. Đó là sổ của tớ. Cột của tớ. Không ai được viết vào. Rồi tớ nhớ cậu nói: một số đo đúng thì không gạch, kể cả khi mình không thích nó.
Tớ không gạch.
Sáng hôm sau, ở bữa sáng, tớ không nói gì về dòng ấy. Mẹ tớ cũng không nói gì. Mẹ tớ chỉ đưa tớ lọ mứt cam, mà mẹ tớ chưa bao giờ đưa, vì mẹ tớ nghĩ người làm phải đưa. Và tớ cười. Lần thứ năm.
Tớ ghi vào cột. Chữ tớ, dưới chữ mẹ tớ: “Thứ Sáu: năm. — E. A.”
Cậu đừng cười. Tớ biết cậu đang cười.
Việc thứ ba. Cô Rosamund gửi cậu một thứ. Ống giấy cuộn. Cô Rosamund nói cậu hiểu nhãn. Cô Rosamund nói đó là trang năm 1658, bản sao chính tay cô Rosamund chép, mất mười một buổi tối, vì chữ cổ, và vì cô Rosamund chép bằng tay phải chưa quen sau khi cổ tay trái nẹp. Cô Rosamund nói: “Bảo người đo, ta đã đọc được bảy phần mười. Ba phần mười còn lại là chữ mà ta không đọc được. Ta không đoán. Ta để trống. Người đo có từ điển chép tay ở thư viện Highcombe. Ta không có.” Tớ không biết từ điển nào. Cô Rosamund bảo cậu biết.
Và cô Rosamund trả lời câu cậu hỏi trong thư 31 tháng Tám. Về số liệu vũng xoay năm 1797. Cô Rosamund có bốn điểm. Ở tờ thứ hai trong ống giấy. Cô Rosamund bảo gửi cả cho Thomas.
Đó là ba việc.
Còn một việc nữa. Không phải việc.
Hôm qua tớ đi qua bãi cỏ dưới Cửa. Bãi cỏ có mười hai cái cọc. Ông Whinn không nhổ cọc. Ông Whinn nói: “Người đo đóng cọc. Người đo nhổ.” Nên cọc vẫn còn. Cừu ăn cỏ quanh cọc, nhưng không ăn sát cọc, nên quanh mỗi cọc có một vòng cỏ cao hơn. Mười hai vòng cỏ cao. Từ trên đồi nhìn xuống, trông như ai đó đã viết mười hai dấu chấm lên bãi cỏ.
Tớ đứng nhìn rất lâu. Rồi tớ nghĩ: lúc cậu đóng cọc, cậu sợ bãi cỏ sẽ mất. Bãi cỏ không mất. Nhưng cọc còn. Và bây giờ cọc là thứ duy nhất ở Thornwick cho thấy đã có người sợ một điều, và đã làm một việc vì điều ấy, và điều ấy đã không xảy ra.
Tớ nghĩ đó là thứ đẹp nhất ở Thornwick tháng này.
Tớ sẽ không nói câu ấy lần thứ hai. Cậu đọc một lần thôi.
Evelyn.
Tái bút. Thư thứ hai, cái thư chỉ có bảng số và một câu. Câu ấy là: “Tớ đã tự đo.” Tớ muốn cậu biết là tớ đã viết câu ấy và sửa ba lần, và cả ba lần đều chỉ là bốn chữ ấy, chỉ khác dấu chấm. Lần đầu là chấm than. Lần hai là chấm hỏi. Lần ba là chấm. Tớ gửi chấm."
*
Adrian đặt thư xuống bàn.
Rồi cầm lên. Đọc lại đoạn về mười hai cái cọc.
Rồi đặt xuống. Lần này úp mặt chữ xuống bàn, như úp một thứ cần để yên một lúc.
Cửa sổ phòng áp mái mở hé. Gió tháng Chín. Trên bậu cửa sổ, cái đĩa sứ với mười một hạt Lammas: một mầm, rễ năm li, về phía tây. Mười hạt chưa động.
Adrian nhìn cái mầm. Nghĩ đến mười hai vòng cỏ cao quanh mười hai cái cọc. Nghĩ đến chữ "Tớ đã tự đo." với dấu chấm, sau một dấu chấm than và một dấu chấm hỏi. Nghĩ đến Evelyn ngồi trên giường nhìn dòng chữ mực tím của Nữ bá tước Helena.
Adrian nhận ra mình đang cười. Không thành tiếng. Đúng như Evelyn đã biết.
Rồi Adrian lật tờ đính kèm. Bảng số của Evelyn, kẻ bằng thước, mực xanh đen, ba cột: ngày, giờ, độ. Hai mươi chín dòng. Ở ba dòng có sương, Evelyn ghi thêm một chữ nhỏ ở lề: "sương". Ở dòng ngày 3 tháng Chín, Evelyn ghi: "Hôm nay tay run, đọc vạch hai lần. Lần hai đúng." Không ai dạy Evelyn ghi điều ấy. Adrian đã ghi những dòng như thế trong sổ của mình từ năm mười hai tuổi, và chưa bao giờ cho Evelyn xem trang nào có những dòng ấy.
Evelyn đã tự tìm ra rằng người đo cũng phải ghi tay mình run.
*
Phong bì có dấu sáp cây sồi.
Adrian cắt mép phong bì bằng con dao gọt bút chì, không bóc sáp. Trong phong bì: một tấm thiệp dày, viền mạ vàng nhạt, và một tờ thư gấp đôi.
Tấm thiệp in sẵn, chữ in đồng:
"Bá tước và Nữ bá tước Ashbourne trân trọng kính mời
ông Adrian Vale
đến Thornwick
từ thứ Hai 28 tháng Mười Hai năm 1936
đến thứ Sáu 1 tháng Một năm 1937.
Xin hồi âm."
Ở chỗ trống sau chữ "kính mời", tên Adrian được viết tay bằng mực đen, nét to, thẳng. Cùng chữ ngoài phong bì.
Tờ thư:
"Thornwick, 10 tháng Chín 1936.
Ông Vale,
Ta không viết thư nhiều. Ta viết thư này ba tối, vì ta muốn viết đúng.
Thiệp mời in theo mẫu của nhà ta. Mẫu ấy dùng từ năm 1880. Chữ “trân trọng kính mời” là chữ của mẫu. Chữ của ta là thế này: ta muốn cậu đến.
Không phải để đo. Ta không mời người đo. Ta mời một người đã ở trong thung lũng của nhà ta một đêm mà ta không ở đó, và đã đưa con gái ta về.
Ta biết cậu sẽ nói không phải cậu đưa về. Rosamund đã kể với ta. Evelyn cầm đèn. Evelyn dẫn. Cậu đi sau. Ta biết. Nhưng ta là cha. Và cha thì không đếm theo cách của người đo.
Năm mới ở Thornwick có ba việc. Đêm 31, tá điền đến hội trường lớn, Evelyn chơi đàn, có nhảy. Sáng 1 tháng Một, nhà ta xuống thung lũng trước bình minh, đến tảng đá thứ bảy. Đó là tục của nhà Ashbourne từ năm 1724. Henry Ashbourne bắt đầu. Ta không biết vì sao. Rosamund biết, nhưng không nói. Và trong mấy ngày ấy, Rosamund sẽ mở thư khố cho cậu, trong phạm vi đã ghi.
Cậu không phải nhảy. Ta không nhảy. Ta đứng ở góc hội trường và nói chuyện với ông Whinn về cừu. Cậu có thể đứng cùng ta.
Ta có một điều chưa nói với cậu ở ga Stonebarrow. Ta sẽ không nói trong thư. Ta sẽ nói khi cậu đến, nếu cậu đến.
Garrick gửi lời: tay đã tháo nẹp. Ta lại không được lái xe.
Edmund Ashbourne.
Tái bút. Vợ ta muốn thêm một dòng. Ta đã nói không. Vợ ta đã thêm."
Và ở cuối tờ thư, dưới chữ ký, bằng mực tím, chữ nhỏ, tròn:
"Mang theo áo khoác dày. Hành lang phía bắc lạnh. Và cậu đã hứa với ta một lần sau. — H. A."
*
Adrian ngồi yên lâu.
Lời mời của một Bá tước. Viết tay. Ba tối. "Ta muốn cậu đến." Và "Ta có một điều chưa nói với cậu." Điều Bá tước Edmund đã không nói ở ga Stonebarrow, mà Adrian đã ghi trong sổ xám là "chưa kể được", cùng cột với những thứ của chính Adrian.
Adrian đặt tấm thiệp lên bàn, cạnh thư của Evelyn.
Rồi lấy sổ xám. Không phải để ghi về lời mời. Để ghi một câu của Bá tước Edmund, dòng 23, cột "Đã biết":
"19/9. Bá tước E. A.: "Cha thì không đếm theo cách của người đo." Đúng. Có nhiều cách đếm. Rowan đếm nhịp. Nữ bá tước H. A. đếm bằng mắt. Bá tước đếm theo cách của cha."
Rồi Adrian nhìn câu ấy và nghĩ đến Margaret. Margaret đếm theo cách nào?
Adrian không biết. Adrian ghi câu hỏi ấy vào cột "Chưa biết". Dòng 24.
*
Ống giấy cuộn mở cuối cùng.
Hai tờ.
Tờ thứ hai trước, vì ngắn. Chữ cô Rosamund, nét tay phải chưa quen, run hơn nét thường, nhưng thẳng:
"Vũng xoay, sổ riêng R. A., tháng Tám 1797.
1/8: chu kỳ ước 12 phút (đếm bằng đồng hồ cát nửa giờ của cha ta, sai số lớn).
6/8: 10 phút.
10/8: 8 phút rưỡi.
13/8: 7 phút.
Mở: 13/8, khoảng hai giờ sáng (đồng hồ quả lắc ở thư phòng, chạy nhanh, không biết nhanh bao nhiêu).
Gửi người vẽ. — R. A."
Bốn điểm. Cộng thời điểm mở.
Adrian lấy giấy kẻ ô. Vẽ nhanh, không phải vẽ cẩn thận, chỉ để nhìn. Trục ngang là ngày. Trục dọc là chu kỳ. Bốn điểm.
Gần như thẳng hàng.
Kéo đường thẳng qua bốn điểm, kéo dài về phía phải, đường thẳng chạm trục ngang ở giữa ngày 13 và ngày 14. Gần hai giờ sáng ngày 14. Hàm của Thomas.
Adrian nhìn đường thẳng ấy, và nhìn độ dốc.
Độ dốc của năm 1797: khoảng bốn mươi giây một ngày.
Độ dốc của năm 1936, từ tám điểm của Thomas: Adrian lấy sổ đo, tìm trang có bảng số. Khoảng bốn mươi hai giây một ngày.
Gần bằng nhau. Trong sai số của một cái đồng hồ cát nửa giờ năm 1797.
Nếu hai độ dốc bằng nhau, thì k là một hằng số. Của cây cầu. Hoặc của thung lũng. Hoặc của một thứ gì đó mà cả hai đều thuộc về.
Adrian đặt bút chì xuống. Không suy. Ghi. Ghi vào sổ đo, trang mới: "1797 và 1936: độ dốc gần bằng (40 và 42 giây/ngày). Nếu k là hằng số, thì có thể biết trước. Không phải biết năm. Biết ngày, khi vũng xoay bắt đầu." Rồi gạch dưới chữ "khi vũng xoay bắt đầu", vì cái ấy vẫn là thứ không biết.
Rồi chép lại bốn điểm cho Thomas. Gửi chuyến thứ Hai.
*
Tờ thứ nhất.
Trang năm 1658.
Cô Rosamund đã chép trên giấy thư khố, khổ lớn, giữ đúng cách xếp dòng của bản gốc, mỗi dòng đánh số ở lề trái bằng mực đỏ. Ba mươi tư dòng. Chữ của năm 1658 không phải chữ của năm 1724. Chữ của Henry Ashbourne năm 1724, Adrian đã đọc được ở thư phòng phía bắc. Chữ này cũ hơn. Nét gãy hơn. Có những chữ cái Adrian không nhận ra, như chữ "s" dài trông giống chữ "f", và những chữ viết tắt bằng một gạch ngang trên đầu.
Cô Rosamund đã đọc được bảy phần mười. Phần đọc được, cô Rosamund chép lại bằng chữ thường ở dòng dưới, mực xanh. Phần không đọc được, cô Rosamund để trống, kẻ một khung chữ nhật nhỏ bằng bút chì, đúng chiều dài của chữ trong bản gốc.
Mười một khung chữ nhật.
Adrian đọc phần mực xanh.
Dòng 1: "Năm của Chúa 1658, tháng Tám, ngày mười ba, đêm."
Dòng 4: "Nửa cây cầu mở ra ở chân [khung] dưới Cửa."
Dòng 9: "Người giữ [khung] nói đây không phải lần đầu."
Dòng 17: "Nói rằng có [khung] cầu, như cầu này, ở những nơi khác, và [khung] đá."
Dòng 23: "Và một [khung]."
Dòng 31: "Ghi để người sau biết."
Adrian dừng ở dòng 17. Đọc lại.
"Có [khung] cầu, như cầu này, ở những nơi khác, và [khung] đá."
Trong khung đầu tiên, chữ gốc ngắn: năm chữ cái, có lẽ sáu, và chữ cái đầu có một nét móc. Trong khung thứ hai, chữ gốc cũng ngắn, cùng chiều dài, cùng nét móc ở đầu.
Hai chữ giống nhau.
Adrian lấy kính lúp từ ngăn kéo. Cúi xuống. Nhìn chữ gốc trong khung thứ nhất, rồi khung thứ hai. Cùng nét. Cùng cách viết tắt. Cùng một chữ.
Một con số, có lẽ. Một con số viết bằng chữ.
Adrian nhìn dòng 23. "Và một [khung]." Khung này dài hơn. Bảy hoặc tám chữ cái.
Adrian ngồi thẳng lên. Đặt kính lúp xuống.
Thư viện Highcombe, dãy chín, ngăn thấp. Một cuốn từ điển chép tay chữ cổ phù thủy miền bắc, tập hai, mà thầy Holt đã chỉ cho Adrian năm năm, khi Adrian đọc bản đồ Ancel năm 1803. Cuốn từ điển ấy không được mang ra khỏi thư viện. Nhưng Adrian đã chép tay một phần, phần các con số và các chữ viết tắt thường gặp, mười hai trang, kẹp trong cuốn sổ bìa vải nâu, trang cuối.
Adrian mở sổ đo. Lật đến trang cuối.
Mười hai trang chép tay. Bút chì. Năm 1935. Chữ của Adrian năm mười sáu tuổi.
Adrian bắt đầu so.
Ngoài cửa sổ, chiều thứ Bảy ngả dần. Tiếng Joe ở sân sau, đếm sỏi. Tiếng Margaret ở bếp, gọi Nell. Tiếng một chiếc xe ngựa đi qua đường làng.
Đến khi Alice gõ cửa gọi ăn tối, Adrian đã điền được một khung.
Khung thứ nhất ở dòng 17. Năm chữ cái. Nét móc ở đầu là cách viết tắt của số đếm. Theo trang bảy trong mười hai trang chép tay.
Bảy.