Đại Phù Thủy - Tác giả Tri Hành
Chương 174. Chuong 174
Chương 174 — Hội đồng dược phẩm
Phòng họp nhỏ tầng ba Tháp Bắc có một cái bàn gỗ sồi dài, bốn ghế ở một bên, một ghế ở bên kia, và một cửa sổ nhìn ra hồ phía tây.
Adrian ngồi ở ghế bên kia. Một mình. Hồ sơ bốn mươi mốt trang đặt trước mặt, cạnh một cốc nước. Mười giờ kém năm sáng thứ Năm 15 tháng Mười năm 1936.
Bốn ghế bên kia bàn, từ trái sang: thầy Mott, bác sĩ Whitmore, một ghế trống, và Tiến sĩ Shaw ở đầu bàn, hơi lùi lại, không ngồi thẳng hàng với ba ghế kia. Không có phiếu. Người nhận tự khai.
Thầy Mott đặt hai tay lên bàn, tròng kính vàng nhạt bắt ánh sáng từ cửa sổ. Bác sĩ Whitmore ngồi thẳng, tóc trắng búi cao, mắt nâu hổ phách nhìn Adrian như nhìn qua kính soi tải. Không ai nói gì.
Mười giờ đúng, cửa mở.
*
Ông Quillon không giống những gì Adrian đã hình dung.
Adrian đã hình dung một người cao, nghiêm, áo đen, như những thanh tra trong tranh minh họa của sách luật. Ông Quillon thấp hơn thầy Mott. Gầy. Khoảng sáu mươi, nếu tính theo cách phù thủy trông, có lẽ một trăm hai mươi theo cách phù thủy sống. Bộ com lê màu xám chì, cũ, đã sửa vai. Ria mép mỏng, cắt rất gọn. Kính gọng thép tròn. Một cái cặp da màu nâu đã sờn ở góc, khóa bằng một sợi dây da buộc vòng, không phải khóa đồng.
Ông Quillon đặt cặp lên bàn, ngồi vào ghế trống, gật đầu với thầy Mott, với bác sĩ Whitmore, với Tiến sĩ Shaw. Rồi nhìn Adrian.
— Ông Vale.
— Thưa ông Quillon.
— Ta đã đọc hồ sơ của ông ba lần, ông Quillon nói. Giọng nhỏ, rõ, không vội. Giọng của người đã nói trong những căn phòng như thế này nhiều đến mức không cần nói to. Lần thứ nhất trên tàu từ Aldermoor. Lần thứ hai ở nhà trọ Stonebarrow đêm qua. Lần thứ ba sáng nay, lúc năm giờ. Bốn mươi mốt trang. Ba tờ xác nhận. Một thư niêm phong. Ông Quillon mở cặp, rút ra bản sao hồ sơ, đặt lên bàn. Bản sao có những mẩu giấy nhỏ màu vàng kẹp ở lề, Adrian đếm được mười bảy. Ta có mười bảy câu hỏi. Ông sẽ trả lời bằng những gì ông biết. Những gì ông không biết, ông nói không biết. Những gì ông không được nói, ông nói không được nói. Ta sẽ ghi cả ba loại.
— Vâng.
— Thầy Mott và bác sĩ Whitmore có thể hỏi thêm bất cứ lúc nào. Tiến sĩ Shaw không hỏi, trừ khi ta mời. Ông Quillon lấy ra một cây bút máy, màu đen, tháo nắp. Bắt đầu.
*
Mười sáu câu hỏi đầu tiên mất một giờ hai mươi phút.
Ông Quillon hỏi về bình chưng cất số hai, về vết lõm ở vai bình, về hơi nước ngưng lệch phải một phần tư. Adrian trả lời theo tờ xác nhận của ông Price. Ông Quillon hỏi: Vale có biết vết lõm ấy trước khi chưng không? Adrian nói: không. Ông Quillon ghi.
Ông Quillon hỏi về bấc đèn số bốn. Về ngày thay bấc. Về nhiệt độ ở miệng bình. Adrian trả lời. Ông Quillon hỏi: Vale đã đo nhiệt độ miệng bình đêm 9 tháng Tư không? Adrian nói: có, tám mươi chín độ, ghi trong tờ năm lần thử, dòng hai. Ông Quillon lật đến dòng hai. Ghi.
Ông Quillon hỏi về bạc lá Ancel. Về luống ba, cây bảy. Về ba lá hái bằng kéo. Về dòng mười bốn sổ nhà kính. Ông Quillon hỏi: tên ngưu chỉ thảo, Vale học ở đâu? Adrian nói: ở nơi chưa khai được, cùng nguồn với công thức. Ông Quillon nhìn Adrian lâu. Rồi ghi. Không hỏi thêm câu ấy. Gấp một mẩu giấy vàng lại, để sang bên.
Ông Quillon hỏi về mật ong Thornwick. Nửa thìa. Từ hũ nào. Ai đưa. Adrian nói: Lady Evelyn Ashbourne đưa, tháng Ba, cho một việc khác, việc bốn đường ống sương ở nhà kính số hai. Ông Quillon hỏi: Lady Evelyn có biết mật ong được dùng cho TT-3 không? Adrian nói: không, đến tháng Tám mới biết. Ông Quillon ghi. Bác sĩ Whitmore, lần đầu tiên, hơi nghiêng đầu.
Ông Quillon hỏi về sương chuông sương. Chín giọt. Năm năm. Lọ pha lê. Ông Quillon hỏi về năm lần thử. Về mười một phút. Về hai con số mười một, ở phần bốn và phần năm, mà hồ sơ đã ghi: "trùng, chưa biết có liên quan không." Ông Quillon dừng ở dòng ấy lâu hơn những dòng khác.
— Ai chỉ cho ông thấy hai con số này trùng?
— Lord Lucian Harcourt, thưa ông. Người đọc đối chiếu.
— Ông không tự thấy.
— Không, thưa ông.
— Ông ghi là ông không tự thấy?
— Có, thưa ông. Ở cuối phần năm. Dòng ghi người đọc đối chiếu và bốn chỗ đã sửa.
Ông Quillon lật đến cuối phần năm. Đọc. Ghi. Và Adrian thấy, từ ghế bên kia bàn, ông Quillon kẻ một nét nhỏ ở lề bản sao của mình. Không phải dấu gạch. Một nét thẳng đứng, ngắn, như người ta đánh dấu một chỗ để quay lại.
Ông Quillon hỏi về sáu lần dùng. Năm lần thử trên chính mình và một lần dẫn Thomas. Ông Quillon hỏi: Vale có biết Hội đồng coi thử trên người là dùng không? Adrian nói: không biết, đến khi Lord Lucian chỉ. Ông Quillon hỏi: nếu biết, Vale có thử không? Adrian nghĩ. Lâu.
— Có, thưa ông, Adrian nói. Nhưng em sẽ khai trước khi thử.
Ông Quillon ghi. Và kẻ thêm một nét nhỏ ở lề.
*
Thomas được gọi vào lúc mười một giờ hai mươi.
Thomas ngồi ở ghế thứ hai bên kia bàn, cạnh Adrian, mà thầy Mott đã kéo vào từ hành lang. Kính đẩy lên. Hai tay đặt trên đùi. Không nhìn Adrian.
Ông Quillon hỏi Thomas bảy câu. Thomas trả lời bảy câu. Bằng số. Ông Quillon hỏi Thomas đã thấy gì trong sương đêm 13 tháng Tám. Thomas nói: một người đang đợi. Rồi tuyết. Rồi một ngọn đèn trên tháp. Ông Quillon hỏi Thomas có biết mình được cho uống gì không. Thomas nói: lúc ấy không. Ba ngày sau thì biết, vì Adrian kể. Ông Quillon hỏi: nếu lúc ấy biết, Reed có đồng ý uống không?
Thomas đẩy kính lên.
— Lúc ấy tớ, Thomas dừng. Đỏ mặt. Lúc ấy em không đồng ý được gì cả, thưa ông. Em đang đi về mép đá. Hai bước. Em không biết em đang đi. Thomas dừng. Nếu Adrian đợi em đồng ý, thì em đã đi bước thứ ba.
Ông Quillon nhìn Thomas lâu.
— Bước thứ ba là gì?
— Là không có đá nữa, thưa ông. Thomas nói. Em đã đo sau. Mép đá cách chỗ em đứng hai bước và một phần ba. Bước thứ ba là bước vào hẻm.
Ông Quillon ghi. Không kẻ nét nào ở lề. Đặt bút xuống. Lần đầu tiên từ mười giờ, đặt bút xuống.
Bác sĩ Whitmore nói, không đợi ông Quillon mời:
— Tờ khám ngày 13 tháng Mười ở phần năm. Vùng trắng mờ ở rìa tây tinh thần hải của Reed. Một phần bốn mươi. Không động. Ta sẽ soi lại sau đêm 13 tháng Mười Một. Ta muốn Hội đồng ghi rằng nếu có dư lượng sương thực mộng, thì dư lượng ấy có từ đêm 13 tháng Tám, không phải từ TT-3. TT-3 không để lại gì trong tinh thần hải. Ta đã soi Vale sáng nay. Vale dùng sáu lần. Không có vùng trắng nào.
Ông Quillon nhìn bác sĩ Whitmore.
— Bác sĩ soi Vale sáng nay?
— Bảy giờ. Trước khi Vale ăn sáng. Ta không báo trước. Bác sĩ Whitmore nói. Ta muốn biết trước khi ngồi vào đây.
Ông Quillon cầm bút lên lại. Ghi.
*
Thư của cô Rosamund được Tiến sĩ Shaw đọc lúc mười một giờ năm mươi, theo lời mời của ông Quillon.
Tiến sĩ Shaw bóc niêm phong trước mặt mọi người. Mở thư. Đọc. Giọng đều, không nhấn.
"Thornwick, 4 tháng Mười 1936.
Gửi Hội đồng Dược phẩm Aldermoor, qua Tiến sĩ Miriam Shaw, Highcombe.
Ta là Rosamund Ashbourne, người giữ thung lũng Harrowdene từ năm 1797. Ta viết để khai ba điều, theo điều mười bốn Quy định Hội đồng.
Một. Đêm 13 rạng 14 tháng Tám năm nay, trong thung lũng của nhà ta, có một trường hợp khẩn: một người trẻ, Thomas Reed, trong sương thực mộng nặng, đi về mép hẻm. Ta có mặt. Ta không có thuốc. Thuốc của nhà ta cho sương thực mộng là một bài thuốc của bà nội ta, cần ba tuần để pha, và ta không pha trước, vì ta đã không tin đêm ấy sẽ đến. Đó là lỗi của ta, không phải của ai khác.
Hai. Adrian Vale dùng TT-3 cho Thomas Reed trước mặt ta, với sự đồng ý của ta, người giữ thung lũng và người lớn tuổi nhất có mặt. Điều mười bốn cho phép cấp phát khẩn, khai trong ba mươi ngày. Adrian Vale đã khai ngày 18 tháng Tám, bốn ngày sau. Ta khai hôm nay, năm mươi mốt ngày sau, vì ta đã chờ để biết Thomas Reed khỏe. Ta khai muộn. Ta xin Hội đồng ghi ta khai muộn.
Ba. Ta không biết nguồn công thức TT-3. Adrian Vale đã nói với ta: “Một người giữ kho dược, ở một nơi con chưa kể được.” Ta đã sống một trăm năm mươi tám năm. Ta biết có những nơi chưa kể được. Nhà ta giữ một nơi như thế. Ta không xin Hội đồng miễn cho Adrian Vale. Ta xin Hội đồng ghi rằng người giữ một nơi chưa kể được đã nghe chữ “chưa”, và tin chữ ấy.
Rosamund Ashbourne."
Tiến sĩ Shaw gấp thư lại. Đặt lên bàn, trước ông Quillon.
Không ai nói gì một lúc.
Ngoài cửa sổ, hồ phía tây xám, phẳng. Một con diệc bay rất thấp trên mặt nước, từ bờ đông sang bờ tây, không vỗ cánh.
*
— Câu thứ mười bảy, ông Quillon nói.
Ông Quillon cầm mẩu giấy vàng cuối cùng lên. Mẩu giấy kẹp ở trang một. Không lật trang. Biết trang một nói gì.
— Phần một, dòng bốn. "Nguồn công thức: chưa khai được. Lý do: để bảo vệ một nơi và một người, ở một nơi chưa thể kể." Ông Quillon đặt mẩu giấy xuống. Ông Vale. Ta đã ngồi ở Hội đồng này bốn mươi tư năm. Ta đã đọc khoảng ba nghìn hồ sơ. Ta đã thấy "nguồn: gia truyền", "nguồn: sách cổ, đã mất", "nguồn: thầy dạy, đã mất", "nguồn: tự nghĩ ra". Ta chưa thấy "chưa khai được".
— Vâng.
— Hội đồng không có cột cho chữ "chưa", ông Quillon nói. Mẫu đăng ký có cột "nguồn". Cột ấy phải có một chữ. Chữ ấy phải là một tên, một sách, hoặc một chữ "tự". Không có chữ "chưa".
Adrian nhìn ông Quillon.
— Thưa ông, Adrian nói. Em có thể ghi "tự". Em có thể ghi "sách cổ, đã mất". Hội đồng sẽ có một chữ trong cột. Nhưng chữ ấy sẽ sai. Adrian dừng. Em không muốn cột có một chữ sai. Em muốn cột có một chữ đúng, kể cả khi chữ đúng không có trong mẫu.
— Và nếu Hội đồng không chấp nhận chữ ấy?
— Thì Hội đồng không đăng ký, thưa ông. Em sẽ không dùng TT-3. Em sẽ không pha. Em đã không pha từ tháng Tám. Adrian dừng. Em đã tính liều cho Thomas, ngày 17 tháng Chín. Em đã không pha. Tờ tính có trong hồ sơ, phần năm, có ghi lý do muốn pha.
— "Sợ," ông Quillon nói.
— Vâng.
Ông Quillon nhìn bản sao hồ sơ. Lật đến phần năm. Đến tờ tính liều. Đến dòng cuối. Nhìn lâu.
Rồi tháo kính. Lau kính bằng một chiếc khăn tay trắng, gấp tư, rút từ túi áo trong. Đeo lại.
— Ta có một cháu gái, ông Quillon nói. Giọng vẫn nhỏ, rõ, không vội. Nhưng không phải giọng hỏi. Năm 1902, cháu gái ta mười bốn tuổi, bị sương thực mộng ở đầm Dunmarsh. Không có thuốc. Thuốc có, nhưng nguồn của thuốc không được đăng ký, vì người biết thuốc không chịu nói nguồn, và Hội đồng năm 1902, Hội đồng mà ta là thư ký trẻ nhất, đã không cho dùng. Ông Quillon dừng. Cháu gái ta sống. Nhưng không bao giờ ngủ được quá bốn giờ một đêm nữa. Đến nay.
Không ai nói gì.
— Ta không kể chuyện này để Hội đồng thương, ông Quillon nói. Ta kể để Hội đồng ghi rằng ta có lý do để không công bằng, theo cả hai phía. Ông Quillon nhìn thầy Mott. Nhìn bác sĩ Whitmore. Ghi đi.
Thầy Mott ghi.
*
Hội đồng nghị riêng từ mười hai giờ mười lăm đến một giờ năm phút. Adrian và Thomas đợi ở hành lang tầng ba Tháp Bắc, ngồi trên băng ghế gỗ dưới bức chân dung hiệu trưởng thứ chín, Ambrose Tey.
Thomas không nói gì suốt năm mươi phút. Adrian cũng thế. Nhưng ở phút thứ ba mươi, Thomas lấy sổ ra, vẽ một cái gì đó, rồi đưa cho Adrian xem: một đường thẳng đi xuống, chạm trục ngang. Dưới đó, chữ Thomas: "Hàm của tớ. T = k(t₀ − t). Chạm không đúng một lần. Như đồng hồ đếm ngược."
Rồi Thomas viết thêm, ở dưới: "Hội đồng cũng thế. Một lần. Rồi xong."
Adrian nhìn tờ giấy. Rồi nhìn Thomas. Thomas nhìn tường đối diện.
Một giờ năm phút, cửa mở. Tiến sĩ Shaw gọi.
*
Ông Quillon đọc kết luận. Đứng. Đọc từ một tờ giấy chữ thầy Mott, nét tròn, loang mực ở hai chỗ.
"Hội đồng Dược phẩm Aldermoor, phiên Highcombe, 15 tháng Mười 1936. Về chế phẩm TT-3, người pha A. Vale, học viên năm bảy.
Một. Hội đồng ghi nhận cấp phát khẩn đêm 13 rạng 14 tháng Tám là đúng theo điều mười bốn. Khai đúng hạn. Người giữ thung lũng xác nhận và khai muộn; Hội đồng ghi khai muộn theo yêu cầu của người khai.
Hai. Hội đồng ghi nhận năm lần thử trên người từ ngày 9 đến 22 tháng Tư là dùng không đăng ký. Không có tình tiết khẩn. Không được miễn.
Ba. Chế phẩm TT-3 lô 1, ba lọ, bị thu để thử ở phòng thí nghiệm Hội đồng tại Aldermoor. Kết quả thử sẽ gửi về Highcombe.
Bốn. Quyền vào phòng thực hành C-2 và kho dược Tháp Đông của A. Vale đình chỉ đến ngày 1 tháng Hai năm 1937.
Năm. A. Vale phải nộp đăng ký công thức chính thức theo mẫu, trước ngày 1 tháng Hai năm 1937. Ở cột nguồn, Hội đồng chấp nhận ghi: “nguồn chưa khai được.” Hội đồng ghi rằng đây là lần đầu chữ này được chấp nhận, và chỉ chấp nhận kèm thư xác nhận của người giữ một nơi chưa kể được, như thư của R. Ashbourne ngày 4 tháng Mười. Đăng ký này là đăng ký tạm, xem xét lại mỗi năm năm.
Sáu. Hội đồng không cho phép dùng TT-3 trên người, kể cả khẩn, cho đến khi có kết quả thử.
Ký: C. Mott. A. Whitmore. E. Quillon, thanh tra."
Ông Quillon đặt tờ giấy xuống.
— Đúng nhưng không được miễn, ông Quillon nói. Ông Vale hiểu không?
— Hiểu, thưa ông.
— Mục năm, ông Quillon nói. Ta đã đề nghị. Thầy Mott và bác sĩ Whitmore đồng ý. Hội đồng Aldermoor có thể bác ở phiên toàn thể tháng Ba. Ta sẽ bảo vệ. Ta không hứa thắng.
— Cảm ơn ông.
— Không cảm ơn. Ông Quillon buộc lại sợi dây da trên cặp. Ta đề nghị vì ông viết "sợ" ở dòng lý do muốn pha. Ba nghìn hồ sơ, không ai viết chữ ấy. Người viết được chữ ấy thì có thể được tin ở chữ "chưa". Ông Quillon nhìn Adrian lần cuối. Đừng làm ta sai.
Rồi đi.
*
Ở hành lang, Thomas đợi. Đứng, không ngồi.
— Đình chỉ đến tháng Hai, Adrian nói.
— Tớ nghe qua cửa. Thomas đẩy kính lên. Cửa phòng họp tầng ba Tháp Bắc có khe hở ở bản lề dưới. Ba li. Tớ đã đo năm ba.
— TT-3 bị thu.
— Tớ nghe.
— "Nguồn chưa khai được."
Thomas im lặng một lúc.
— Lần đầu, Thomas nói. Ông Quillon nói là lần đầu. Hội đồng ba trăm năm. Lần đầu. Thomas dừng. Cậu biết điều đó có nghĩa là gì không?
— Là đăng ký tạm.
— Là từ nay về sau, Thomas nói, sẽ có người thứ hai.
Ở cuối hành lang, ở cửa cầu thang Tháp Bắc, Julian Mercer đứng, tay cầm một cuốn sách thư viện, như vừa đi lên từ dãy chín. Julian không nhìn Adrian và Thomas. Julian nhìn ông Quillon đi xuống cầu thang, cặp da trong tay, sợi dây da buộc vòng. Rồi Julian mở cuốn sách ra, ở trang cuối, chỗ người ta ghi ngày mượn, và viết một dòng bằng bút chì.
Adrian không thấy Julian viết gì.
Nhưng tối hôm ấy, ở bàn năm bảy Khu Thông, khi Rowan hỏi Julian sao cả chiều không thấy, Julian nói, không giải thích:
— Tớ đang học một cụm từ mới.
Và tối hôm ấy, ở phòng 17, Adrian ghi vào sổ xám, dòng 28, cột "Đã biết": "15/10. Hội đồng. Đúng nhưng không được miễn. Đình chỉ đến 1/2/37. TT-3 thu. Mục năm: 'nguồn chưa khai được', lần đầu, tạm, kèm thư người giữ. E. Quillon: cháu gái, đầm Dunmarsh, 1902. 'Đừng làm ta sai.'"
Rồi, ở cột "Chưa biết", dòng 29: "Lão Tần có biết rằng ở Aldermoor, năm 1936, có một cột đăng ký ghi 'nguồn chưa khai được' vì Lão Tần không? Chưa biết. Không thể hỏi. Ghi để nhớ rằng có người được bảo vệ bằng một chữ mà người ấy không biết."
Phòng họp nhỏ tầng ba Tháp Bắc có một cái bàn gỗ sồi dài, bốn ghế ở một bên, một ghế ở bên kia, và một cửa sổ nhìn ra hồ phía tây.
Adrian ngồi ở ghế bên kia. Một mình. Hồ sơ bốn mươi mốt trang đặt trước mặt, cạnh một cốc nước. Mười giờ kém năm sáng thứ Năm 15 tháng Mười năm 1936.
Bốn ghế bên kia bàn, từ trái sang: thầy Mott, bác sĩ Whitmore, một ghế trống, và Tiến sĩ Shaw ở đầu bàn, hơi lùi lại, không ngồi thẳng hàng với ba ghế kia. Không có phiếu. Người nhận tự khai.
Thầy Mott đặt hai tay lên bàn, tròng kính vàng nhạt bắt ánh sáng từ cửa sổ. Bác sĩ Whitmore ngồi thẳng, tóc trắng búi cao, mắt nâu hổ phách nhìn Adrian như nhìn qua kính soi tải. Không ai nói gì.
Mười giờ đúng, cửa mở.
*
Ông Quillon không giống những gì Adrian đã hình dung.
Adrian đã hình dung một người cao, nghiêm, áo đen, như những thanh tra trong tranh minh họa của sách luật. Ông Quillon thấp hơn thầy Mott. Gầy. Khoảng sáu mươi, nếu tính theo cách phù thủy trông, có lẽ một trăm hai mươi theo cách phù thủy sống. Bộ com lê màu xám chì, cũ, đã sửa vai. Ria mép mỏng, cắt rất gọn. Kính gọng thép tròn. Một cái cặp da màu nâu đã sờn ở góc, khóa bằng một sợi dây da buộc vòng, không phải khóa đồng.
Ông Quillon đặt cặp lên bàn, ngồi vào ghế trống, gật đầu với thầy Mott, với bác sĩ Whitmore, với Tiến sĩ Shaw. Rồi nhìn Adrian.
— Ông Vale.
— Thưa ông Quillon.
— Ta đã đọc hồ sơ của ông ba lần, ông Quillon nói. Giọng nhỏ, rõ, không vội. Giọng của người đã nói trong những căn phòng như thế này nhiều đến mức không cần nói to. Lần thứ nhất trên tàu từ Aldermoor. Lần thứ hai ở nhà trọ Stonebarrow đêm qua. Lần thứ ba sáng nay, lúc năm giờ. Bốn mươi mốt trang. Ba tờ xác nhận. Một thư niêm phong. Ông Quillon mở cặp, rút ra bản sao hồ sơ, đặt lên bàn. Bản sao có những mẩu giấy nhỏ màu vàng kẹp ở lề, Adrian đếm được mười bảy. Ta có mười bảy câu hỏi. Ông sẽ trả lời bằng những gì ông biết. Những gì ông không biết, ông nói không biết. Những gì ông không được nói, ông nói không được nói. Ta sẽ ghi cả ba loại.
— Vâng.
— Thầy Mott và bác sĩ Whitmore có thể hỏi thêm bất cứ lúc nào. Tiến sĩ Shaw không hỏi, trừ khi ta mời. Ông Quillon lấy ra một cây bút máy, màu đen, tháo nắp. Bắt đầu.
*
Mười sáu câu hỏi đầu tiên mất một giờ hai mươi phút.
Ông Quillon hỏi về bình chưng cất số hai, về vết lõm ở vai bình, về hơi nước ngưng lệch phải một phần tư. Adrian trả lời theo tờ xác nhận của ông Price. Ông Quillon hỏi: Vale có biết vết lõm ấy trước khi chưng không? Adrian nói: không. Ông Quillon ghi.
Ông Quillon hỏi về bấc đèn số bốn. Về ngày thay bấc. Về nhiệt độ ở miệng bình. Adrian trả lời. Ông Quillon hỏi: Vale đã đo nhiệt độ miệng bình đêm 9 tháng Tư không? Adrian nói: có, tám mươi chín độ, ghi trong tờ năm lần thử, dòng hai. Ông Quillon lật đến dòng hai. Ghi.
Ông Quillon hỏi về bạc lá Ancel. Về luống ba, cây bảy. Về ba lá hái bằng kéo. Về dòng mười bốn sổ nhà kính. Ông Quillon hỏi: tên ngưu chỉ thảo, Vale học ở đâu? Adrian nói: ở nơi chưa khai được, cùng nguồn với công thức. Ông Quillon nhìn Adrian lâu. Rồi ghi. Không hỏi thêm câu ấy. Gấp một mẩu giấy vàng lại, để sang bên.
Ông Quillon hỏi về mật ong Thornwick. Nửa thìa. Từ hũ nào. Ai đưa. Adrian nói: Lady Evelyn Ashbourne đưa, tháng Ba, cho một việc khác, việc bốn đường ống sương ở nhà kính số hai. Ông Quillon hỏi: Lady Evelyn có biết mật ong được dùng cho TT-3 không? Adrian nói: không, đến tháng Tám mới biết. Ông Quillon ghi. Bác sĩ Whitmore, lần đầu tiên, hơi nghiêng đầu.
Ông Quillon hỏi về sương chuông sương. Chín giọt. Năm năm. Lọ pha lê. Ông Quillon hỏi về năm lần thử. Về mười một phút. Về hai con số mười một, ở phần bốn và phần năm, mà hồ sơ đã ghi: "trùng, chưa biết có liên quan không." Ông Quillon dừng ở dòng ấy lâu hơn những dòng khác.
— Ai chỉ cho ông thấy hai con số này trùng?
— Lord Lucian Harcourt, thưa ông. Người đọc đối chiếu.
— Ông không tự thấy.
— Không, thưa ông.
— Ông ghi là ông không tự thấy?
— Có, thưa ông. Ở cuối phần năm. Dòng ghi người đọc đối chiếu và bốn chỗ đã sửa.
Ông Quillon lật đến cuối phần năm. Đọc. Ghi. Và Adrian thấy, từ ghế bên kia bàn, ông Quillon kẻ một nét nhỏ ở lề bản sao của mình. Không phải dấu gạch. Một nét thẳng đứng, ngắn, như người ta đánh dấu một chỗ để quay lại.
Ông Quillon hỏi về sáu lần dùng. Năm lần thử trên chính mình và một lần dẫn Thomas. Ông Quillon hỏi: Vale có biết Hội đồng coi thử trên người là dùng không? Adrian nói: không biết, đến khi Lord Lucian chỉ. Ông Quillon hỏi: nếu biết, Vale có thử không? Adrian nghĩ. Lâu.
— Có, thưa ông, Adrian nói. Nhưng em sẽ khai trước khi thử.
Ông Quillon ghi. Và kẻ thêm một nét nhỏ ở lề.
*
Thomas được gọi vào lúc mười một giờ hai mươi.
Thomas ngồi ở ghế thứ hai bên kia bàn, cạnh Adrian, mà thầy Mott đã kéo vào từ hành lang. Kính đẩy lên. Hai tay đặt trên đùi. Không nhìn Adrian.
Ông Quillon hỏi Thomas bảy câu. Thomas trả lời bảy câu. Bằng số. Ông Quillon hỏi Thomas đã thấy gì trong sương đêm 13 tháng Tám. Thomas nói: một người đang đợi. Rồi tuyết. Rồi một ngọn đèn trên tháp. Ông Quillon hỏi Thomas có biết mình được cho uống gì không. Thomas nói: lúc ấy không. Ba ngày sau thì biết, vì Adrian kể. Ông Quillon hỏi: nếu lúc ấy biết, Reed có đồng ý uống không?
Thomas đẩy kính lên.
— Lúc ấy tớ, Thomas dừng. Đỏ mặt. Lúc ấy em không đồng ý được gì cả, thưa ông. Em đang đi về mép đá. Hai bước. Em không biết em đang đi. Thomas dừng. Nếu Adrian đợi em đồng ý, thì em đã đi bước thứ ba.
Ông Quillon nhìn Thomas lâu.
— Bước thứ ba là gì?
— Là không có đá nữa, thưa ông. Thomas nói. Em đã đo sau. Mép đá cách chỗ em đứng hai bước và một phần ba. Bước thứ ba là bước vào hẻm.
Ông Quillon ghi. Không kẻ nét nào ở lề. Đặt bút xuống. Lần đầu tiên từ mười giờ, đặt bút xuống.
Bác sĩ Whitmore nói, không đợi ông Quillon mời:
— Tờ khám ngày 13 tháng Mười ở phần năm. Vùng trắng mờ ở rìa tây tinh thần hải của Reed. Một phần bốn mươi. Không động. Ta sẽ soi lại sau đêm 13 tháng Mười Một. Ta muốn Hội đồng ghi rằng nếu có dư lượng sương thực mộng, thì dư lượng ấy có từ đêm 13 tháng Tám, không phải từ TT-3. TT-3 không để lại gì trong tinh thần hải. Ta đã soi Vale sáng nay. Vale dùng sáu lần. Không có vùng trắng nào.
Ông Quillon nhìn bác sĩ Whitmore.
— Bác sĩ soi Vale sáng nay?
— Bảy giờ. Trước khi Vale ăn sáng. Ta không báo trước. Bác sĩ Whitmore nói. Ta muốn biết trước khi ngồi vào đây.
Ông Quillon cầm bút lên lại. Ghi.
*
Thư của cô Rosamund được Tiến sĩ Shaw đọc lúc mười một giờ năm mươi, theo lời mời của ông Quillon.
Tiến sĩ Shaw bóc niêm phong trước mặt mọi người. Mở thư. Đọc. Giọng đều, không nhấn.
"Thornwick, 4 tháng Mười 1936.
Gửi Hội đồng Dược phẩm Aldermoor, qua Tiến sĩ Miriam Shaw, Highcombe.
Ta là Rosamund Ashbourne, người giữ thung lũng Harrowdene từ năm 1797. Ta viết để khai ba điều, theo điều mười bốn Quy định Hội đồng.
Một. Đêm 13 rạng 14 tháng Tám năm nay, trong thung lũng của nhà ta, có một trường hợp khẩn: một người trẻ, Thomas Reed, trong sương thực mộng nặng, đi về mép hẻm. Ta có mặt. Ta không có thuốc. Thuốc của nhà ta cho sương thực mộng là một bài thuốc của bà nội ta, cần ba tuần để pha, và ta không pha trước, vì ta đã không tin đêm ấy sẽ đến. Đó là lỗi của ta, không phải của ai khác.
Hai. Adrian Vale dùng TT-3 cho Thomas Reed trước mặt ta, với sự đồng ý của ta, người giữ thung lũng và người lớn tuổi nhất có mặt. Điều mười bốn cho phép cấp phát khẩn, khai trong ba mươi ngày. Adrian Vale đã khai ngày 18 tháng Tám, bốn ngày sau. Ta khai hôm nay, năm mươi mốt ngày sau, vì ta đã chờ để biết Thomas Reed khỏe. Ta khai muộn. Ta xin Hội đồng ghi ta khai muộn.
Ba. Ta không biết nguồn công thức TT-3. Adrian Vale đã nói với ta: “Một người giữ kho dược, ở một nơi con chưa kể được.” Ta đã sống một trăm năm mươi tám năm. Ta biết có những nơi chưa kể được. Nhà ta giữ một nơi như thế. Ta không xin Hội đồng miễn cho Adrian Vale. Ta xin Hội đồng ghi rằng người giữ một nơi chưa kể được đã nghe chữ “chưa”, và tin chữ ấy.
Rosamund Ashbourne."
Tiến sĩ Shaw gấp thư lại. Đặt lên bàn, trước ông Quillon.
Không ai nói gì một lúc.
Ngoài cửa sổ, hồ phía tây xám, phẳng. Một con diệc bay rất thấp trên mặt nước, từ bờ đông sang bờ tây, không vỗ cánh.
*
— Câu thứ mười bảy, ông Quillon nói.
Ông Quillon cầm mẩu giấy vàng cuối cùng lên. Mẩu giấy kẹp ở trang một. Không lật trang. Biết trang một nói gì.
— Phần một, dòng bốn. "Nguồn công thức: chưa khai được. Lý do: để bảo vệ một nơi và một người, ở một nơi chưa thể kể." Ông Quillon đặt mẩu giấy xuống. Ông Vale. Ta đã ngồi ở Hội đồng này bốn mươi tư năm. Ta đã đọc khoảng ba nghìn hồ sơ. Ta đã thấy "nguồn: gia truyền", "nguồn: sách cổ, đã mất", "nguồn: thầy dạy, đã mất", "nguồn: tự nghĩ ra". Ta chưa thấy "chưa khai được".
— Vâng.
— Hội đồng không có cột cho chữ "chưa", ông Quillon nói. Mẫu đăng ký có cột "nguồn". Cột ấy phải có một chữ. Chữ ấy phải là một tên, một sách, hoặc một chữ "tự". Không có chữ "chưa".
Adrian nhìn ông Quillon.
— Thưa ông, Adrian nói. Em có thể ghi "tự". Em có thể ghi "sách cổ, đã mất". Hội đồng sẽ có một chữ trong cột. Nhưng chữ ấy sẽ sai. Adrian dừng. Em không muốn cột có một chữ sai. Em muốn cột có một chữ đúng, kể cả khi chữ đúng không có trong mẫu.
— Và nếu Hội đồng không chấp nhận chữ ấy?
— Thì Hội đồng không đăng ký, thưa ông. Em sẽ không dùng TT-3. Em sẽ không pha. Em đã không pha từ tháng Tám. Adrian dừng. Em đã tính liều cho Thomas, ngày 17 tháng Chín. Em đã không pha. Tờ tính có trong hồ sơ, phần năm, có ghi lý do muốn pha.
— "Sợ," ông Quillon nói.
— Vâng.
Ông Quillon nhìn bản sao hồ sơ. Lật đến phần năm. Đến tờ tính liều. Đến dòng cuối. Nhìn lâu.
Rồi tháo kính. Lau kính bằng một chiếc khăn tay trắng, gấp tư, rút từ túi áo trong. Đeo lại.
— Ta có một cháu gái, ông Quillon nói. Giọng vẫn nhỏ, rõ, không vội. Nhưng không phải giọng hỏi. Năm 1902, cháu gái ta mười bốn tuổi, bị sương thực mộng ở đầm Dunmarsh. Không có thuốc. Thuốc có, nhưng nguồn của thuốc không được đăng ký, vì người biết thuốc không chịu nói nguồn, và Hội đồng năm 1902, Hội đồng mà ta là thư ký trẻ nhất, đã không cho dùng. Ông Quillon dừng. Cháu gái ta sống. Nhưng không bao giờ ngủ được quá bốn giờ một đêm nữa. Đến nay.
Không ai nói gì.
— Ta không kể chuyện này để Hội đồng thương, ông Quillon nói. Ta kể để Hội đồng ghi rằng ta có lý do để không công bằng, theo cả hai phía. Ông Quillon nhìn thầy Mott. Nhìn bác sĩ Whitmore. Ghi đi.
Thầy Mott ghi.
*
Hội đồng nghị riêng từ mười hai giờ mười lăm đến một giờ năm phút. Adrian và Thomas đợi ở hành lang tầng ba Tháp Bắc, ngồi trên băng ghế gỗ dưới bức chân dung hiệu trưởng thứ chín, Ambrose Tey.
Thomas không nói gì suốt năm mươi phút. Adrian cũng thế. Nhưng ở phút thứ ba mươi, Thomas lấy sổ ra, vẽ một cái gì đó, rồi đưa cho Adrian xem: một đường thẳng đi xuống, chạm trục ngang. Dưới đó, chữ Thomas: "Hàm của tớ. T = k(t₀ − t). Chạm không đúng một lần. Như đồng hồ đếm ngược."
Rồi Thomas viết thêm, ở dưới: "Hội đồng cũng thế. Một lần. Rồi xong."
Adrian nhìn tờ giấy. Rồi nhìn Thomas. Thomas nhìn tường đối diện.
Một giờ năm phút, cửa mở. Tiến sĩ Shaw gọi.
*
Ông Quillon đọc kết luận. Đứng. Đọc từ một tờ giấy chữ thầy Mott, nét tròn, loang mực ở hai chỗ.
"Hội đồng Dược phẩm Aldermoor, phiên Highcombe, 15 tháng Mười 1936. Về chế phẩm TT-3, người pha A. Vale, học viên năm bảy.
Một. Hội đồng ghi nhận cấp phát khẩn đêm 13 rạng 14 tháng Tám là đúng theo điều mười bốn. Khai đúng hạn. Người giữ thung lũng xác nhận và khai muộn; Hội đồng ghi khai muộn theo yêu cầu của người khai.
Hai. Hội đồng ghi nhận năm lần thử trên người từ ngày 9 đến 22 tháng Tư là dùng không đăng ký. Không có tình tiết khẩn. Không được miễn.
Ba. Chế phẩm TT-3 lô 1, ba lọ, bị thu để thử ở phòng thí nghiệm Hội đồng tại Aldermoor. Kết quả thử sẽ gửi về Highcombe.
Bốn. Quyền vào phòng thực hành C-2 và kho dược Tháp Đông của A. Vale đình chỉ đến ngày 1 tháng Hai năm 1937.
Năm. A. Vale phải nộp đăng ký công thức chính thức theo mẫu, trước ngày 1 tháng Hai năm 1937. Ở cột nguồn, Hội đồng chấp nhận ghi: “nguồn chưa khai được.” Hội đồng ghi rằng đây là lần đầu chữ này được chấp nhận, và chỉ chấp nhận kèm thư xác nhận của người giữ một nơi chưa kể được, như thư của R. Ashbourne ngày 4 tháng Mười. Đăng ký này là đăng ký tạm, xem xét lại mỗi năm năm.
Sáu. Hội đồng không cho phép dùng TT-3 trên người, kể cả khẩn, cho đến khi có kết quả thử.
Ký: C. Mott. A. Whitmore. E. Quillon, thanh tra."
Ông Quillon đặt tờ giấy xuống.
— Đúng nhưng không được miễn, ông Quillon nói. Ông Vale hiểu không?
— Hiểu, thưa ông.
— Mục năm, ông Quillon nói. Ta đã đề nghị. Thầy Mott và bác sĩ Whitmore đồng ý. Hội đồng Aldermoor có thể bác ở phiên toàn thể tháng Ba. Ta sẽ bảo vệ. Ta không hứa thắng.
— Cảm ơn ông.
— Không cảm ơn. Ông Quillon buộc lại sợi dây da trên cặp. Ta đề nghị vì ông viết "sợ" ở dòng lý do muốn pha. Ba nghìn hồ sơ, không ai viết chữ ấy. Người viết được chữ ấy thì có thể được tin ở chữ "chưa". Ông Quillon nhìn Adrian lần cuối. Đừng làm ta sai.
Rồi đi.
*
Ở hành lang, Thomas đợi. Đứng, không ngồi.
— Đình chỉ đến tháng Hai, Adrian nói.
— Tớ nghe qua cửa. Thomas đẩy kính lên. Cửa phòng họp tầng ba Tháp Bắc có khe hở ở bản lề dưới. Ba li. Tớ đã đo năm ba.
— TT-3 bị thu.
— Tớ nghe.
— "Nguồn chưa khai được."
Thomas im lặng một lúc.
— Lần đầu, Thomas nói. Ông Quillon nói là lần đầu. Hội đồng ba trăm năm. Lần đầu. Thomas dừng. Cậu biết điều đó có nghĩa là gì không?
— Là đăng ký tạm.
— Là từ nay về sau, Thomas nói, sẽ có người thứ hai.
Ở cuối hành lang, ở cửa cầu thang Tháp Bắc, Julian Mercer đứng, tay cầm một cuốn sách thư viện, như vừa đi lên từ dãy chín. Julian không nhìn Adrian và Thomas. Julian nhìn ông Quillon đi xuống cầu thang, cặp da trong tay, sợi dây da buộc vòng. Rồi Julian mở cuốn sách ra, ở trang cuối, chỗ người ta ghi ngày mượn, và viết một dòng bằng bút chì.
Adrian không thấy Julian viết gì.
Nhưng tối hôm ấy, ở bàn năm bảy Khu Thông, khi Rowan hỏi Julian sao cả chiều không thấy, Julian nói, không giải thích:
— Tớ đang học một cụm từ mới.
Và tối hôm ấy, ở phòng 17, Adrian ghi vào sổ xám, dòng 28, cột "Đã biết": "15/10. Hội đồng. Đúng nhưng không được miễn. Đình chỉ đến 1/2/37. TT-3 thu. Mục năm: 'nguồn chưa khai được', lần đầu, tạm, kèm thư người giữ. E. Quillon: cháu gái, đầm Dunmarsh, 1902. 'Đừng làm ta sai.'"
Rồi, ở cột "Chưa biết", dòng 29: "Lão Tần có biết rằng ở Aldermoor, năm 1936, có một cột đăng ký ghi 'nguồn chưa khai được' vì Lão Tần không? Chưa biết. Không thể hỏi. Ghi để nhớ rằng có người được bảo vệ bằng một chữ mà người ấy không biết."